Adapalene là một hợp chất dạng retinoid đã được
chứng minh là có hoạt tính kháng viêm in vivo và in vitro ; adapalene bền vững
với oxygen và ánh sáng và không có phản ứng về mặt hóa học. Cơ chế hoạt động của
adapalene, giống như tretinoin, là gắn kết vào các thụ thể acid retinoic đặc
hiệu của nhân, nhưng khác tretinoin ở chỗ không gắn vào protein của thụ thể
trong bào tương.
Adapalene khi dùng trên da có tác dụng phân hủy
nhân mụn và cũng có tác dụng trên những bất thường của tiến trình sừng hóa và
biệt hóa của biểu bì, cả hai trường hợp này đều là những yếu tố gây mụn trứng cá
(acne vulgaris). Phương thức tác động được đề nghị của adapalene là bình thường
hóa tiến trình biệt hóa của các tế bào nang biểu mô và do đó, làm giảm sự hình
thành các vi nhân mụn trứng cá.
Adapalene có ưu điểm hơn các retinoid trong thử
nghiệm kháng viêm tiêu chuẩn cả in vitro và in vivo. Cơ chế của nó là ức chế các
đáp ứng hóa ứng động và hóa tăng động của bạch cầu đa nhân ở người và cả sự
chuyển hóa bằng cách lipoxide hóa acid arachidonic thành các chất trung gian
tiền viêm. Đặc tính này đã gợi ý rằng thành phần viêm qua trung gian tế bào của
mụn trứng cá có thể bị adapalene tác động. Các nghiên cứu ở người đã cho những
bằng chứng lâm sàng về việc adapalene dùng trên da có hiệu quả trong giảm bớt
phần viêm của mụn trứng cá (sẩn và mụn mủ).
Ở người, adapalene được hấp thu qua da kém ;
trong các thử nghiệm lâm sàng, không tìm thấy được nồng độ adapalene trong huyết
tương ở mức có thể đo được khi sử dụng dài hạn trên một vùng da rộng bị mụn
trứng cá với mức độ nhạy cảm phân tích là 0,15 ng/ml. Sau khi xử lý [14C]-adapalene
ở chuột lớn (tiêm tĩnh mạch, tiêm phúc mạc, uống và dùng ngoài da), ở thỏ (tiêm
tĩnh mạch, uống và dùng ngoài da) và ở chó (tiêm tĩnh mạch và uống), hoạt tính
phóng xạ phân bố ở một số mô và được tìm thấy nhiều nhất ở gan, lách, thượng
thận và buồng trứng. Chuyển hóa thuốc ở động vật chưa được xác định rõ ràng, chủ
yếu theo con đường O-demethyl hóa, hydroxyl hóa và liên hợp, và đào thải chủ yếu
là qua đường mật.
Trong các nghiên cứu trên động vật, adapalene
được dung nạp rất tốt khi dùng ngoài da trong 6 tháng ở thỏ và 2 năm ở chuột
nhắt. Triệu chứng ngộ độc chủ yếu tìm thấy ở các loài này khi dùng theo đường
uống có liên quan đến hội chứng thặng dư vitamin A, gồm cả loãng xương, tăng
phosphatase kiềm và thiếu máu nhẹ. Liều uống adapalene cao không gây tác dụng
ngoại ý trên thần kinh, tim mạch hay hô hấp ở động vật. Adapalene không gây đột
biến. Các nghiên cứu suốt đời với adapalene đã được thực hiện hoàn tất ở chuột
nhắt với liều bôi da là 0,6 ; 2 và 6 mg/kg/ngày và ở chuột lớn với liều uống
0,15 ; 0,5 và 1,5 mg/kg/ngày. Khám phá đáng kể duy nhất là sự gia tăng có ý
nghĩa thống kê u tế bào ưa crôm lành tính của phần tủy thượng thận ở chuột lớn
đực dùng adapalene với liều 1,5 mg/kg/ngày. Các thay đổi này không được xem là
có liên quan đến sự sử dụng adapalene ngoài da.
CHỈ ĐỊNH
Tổng quát : Nếu xuất hiện phản ứng nhạy
cảm hay kích ứng trầm trọng, nên ngưng thuốc. Nếu mức độ kích ứng tại chỗ là báo
động, nên hướng dẫn bệnh nhân kéo dài khoảng cách dùng thuốc, tạm thời ngưng
thuốc hay ngưng hẵn.
Differin Gel không nên cho tiếp xúc với
mắt, miệng, hốc mũi hay niêm mạc. Nếu thuốc dây vào mắt, rửa ngay lập tức bằng
nước ấm. Không nên bôi thuốc lên da bị trầy (da bị cắt hay bị tróc) hay da bị
eczema cũng như trên bệnh nhân bị mụn trứng cá nặng.
LÚC CÓ THAI và LÚC NUÔI CON
BÚ
Không có thông tin về sự sử dụng adapalene ở
phụ nữ có thai. Do đó, không nên dùng adapalene trong thai kỳ.
Không biết được rằng thuốc có tiết qua sữa của
động vật hoặc người hay không. Do nhiều thuốc được bài tiết qua sữa mẹ, nên thận
trọng khi dùng Differin Gel cho phụ nữ nuôi con bú. Trong trường hợp đang nuôi
con bú, không nên bôi thuốc lên ngực.
TƯƠNG TÁC THUỐC
Không có tương tác nào được biết giữa các thuốc
khác được sử dụng đồng thời trên da với Differin Gel ; tuy nhiên, không nên dùng
đồng thời các thuốc retinoid hay các thuốc khác có cùng phương thức tác động với
adapalene.
Adapalene bền vững với oxygen và ánh sáng và
không có phản ứng về mặt hóa học. Trong khi các nghiên cứu rộng rãi trên động
vật và người không cho thấy khả năng bị tác hại của ánh sáng hay dị ứng ánh sáng
với adapalene, tính an toàn của việc sử dụng adapalene khi tiếp xúc nhiều với
ánh nắng hay tia cực tím chưa được xác định trên cả động vật và người. Nên tránh
tiếp xúc nhiều với ánh nắng hay tia cực tím.
Ở người, adapalene hấp thu qua da kém, và do
đó, tương tác với các thuốc có tác dụng toàn thân hầu như không xảy ra. Không có
bằng chứng về ảnh hưởng của sự sử dụng Differin Gel ngoài da lên các thuốc dùng
theo đường uống như thuốc ngừa thai và kháng sinh.
Differin Gel có khả năng gây kích ứng tại chỗ
nhẹ, do đó, sự sử dụng đồng thời các thuốc có tác dụng bong da, se da hay những
thuốc có tính kích ứng có thể gây kích ứng gộp. Tuy nhiên, các thuốc điều trị
mụn trứng cá trên da như dung dịch erythromycin (với nồng độ đến 4%) hay
clindamycin phosphate (1% dạng base) hay dạng gel nước benzoyl peroxide với nồng
độ đến 10%, có thể được sử dụng vào buổi sáng trong khi Differin Gel được dùng
vào buổi tối do không có sự phân hủy giữa các thuốc cũng như kích ứng gộp.
TÁC DỤNG NGOẠI Ý
Liều lượng :
Differin Gel nên được dùng trên cả vùng da bị
mụn trứng cá mỗi ngày một lần trước khi nghỉ ngơi và sau khi rửa sạch sẽ, chứ
không phải chỉ chấm lên đầu mụn. Nên bôi một lớp mỏng, tránh tiếp xúc với mắt và
môi (xem Chú ý đề phòng và Thận trọng lúc dùng). Chú ý lau thật khô vùng da bị
mụn trước khi bôi thuốc. Thông thường cần điều trị từ 8 đến 12 tuần.
Với những bệnh nhân cần phải kéo dài khoảng
cách dùng thuốc hay tạm thời ngưng điều trị, có thể sử dụng thường xuyên trở lại
hoặc tiếp tục trị liệu khi xét rằng bệnh nhân có thể dung nạp bình thường với
trị liệu trở lại.
Nếu bệnh nhân có sử dụng mỹ phẩm, nên dùng mỹ
phẩm không gây nhân mụn và không làm se da.
Tính an toàn và hiệu quả của Differin Gel chưa
được nghiên cứu ở trẻ nhỏ và trẻ sơ sinh.
Cách dùng : Bóp nhẹ ống thuốc ở phần
đuôi, lấy một lượng gel vừa đủ trên đầu ngón tay để bôi lên cả vùng da bị mụn.
Đóng chặt nắp ống sau khi dùng.
QUÁ LIỀU