Erythromycin là một kháng sinh thuộc nhóm
macrolide có tác dụng in vitro và in vivo trên hầu hết các vi khuẩn hiếu khí và
kỵ khí gram dương cũng như trên một vài trực khuẩn gram âm. Erythromycin thường
có tính kìm khuẩn nhưng cũng có thể có tính diệt khuẩn ở nồng độ cao hay trên
những vi khuẩn nhạy cảm cao. Erythromycin ức chế sự tổng hợp protein của các vi
khuẩn nhạy cảm bằng cách gắn kết có hồi phục vào tiểu đơn vị ribosom 50S. Khi
bôi lên da, thuốc ức chế sự phát triển của các vi khuẩn nhạy cảm (chủ yếu là
Propionibacterium acnes) trên da và làm giảm nồng độ acid béo tự do trong bã
nhờn. Việc giảm thành phần acid béo tự do trong bã nhờn có thể là một hệ quả
gián tiếp của tác động ức chế các vi khuẩn tiết lipase chuyển triglyceride thành
các acid béo tự do hay có thể là một kết quả trực tiếp của tác động can thiệp
vào sự tiết lipase ở những vi khuẩn này. Các acid béo tự do là những chất gây
nhân trứng cá và được xem là nguyên nhân gây ra những sang thương viêm (như sẩn,
mụn mủ, mụn nốt, mụn bọc) của mụn trứng cá. Tuy nhiên, các cơ chế hoạt động khác
như tác động chống viêm trực tiếp của erythromycin có thể tham gia vào sự cải
thiện lâm sàng của mụn trứng cá được quan sát khi trị liệu tại chỗ bằng
erythromycin. Thuốc này không cho thấy có hấp thu toàn thân khi bôi trên da
nguyên vẹn và không biết được là erythromycin có được hấp thu qua da bị trầy
sướt, vết thương hay qua niêm mạc hay không.
CHỈ ĐỊNH
Tổng quát : Việc sử dụng các thuốc kháng
sinh có thể đi kèm với sự tăng sinh vi khuẩn đề kháng. Nếu xuất hiện tác dụng
này, nên ngưng thuốc và áp dụng những biện pháp thích hợp.
Erythrogel 4% (Eryacne 4%) chỉ dùng ngoài da và
nên tránh tiếp xúc với mắt, mũi, miệng, vết thương hở và niêm mạc. Nếu vô ý bị
tiếp xúc, rửa kỹ bằng nước. Nếu xuất hiện phản ứng nhạy cảm hay kích ứng trầm
trọng, nên ngưng thuốc.
Nếu mức độ kích ứng tại chỗ trở nên đáng kể,
nên hướng dẫn bệnh nhân kéo dài khoảng cách dùng thuốc, tạm thời ngưng thuốc hay
chấm dứt dùng thuốc. Nên thận trọng khi sử dụng đồng thời với các thuốc điều trị
mụn trứng cá tại chỗ khác do có thể có tác động kích ứng gộp, đặc biệt với các
thuốc có tác dụng bong da, tróc vẩy da hay làm mòn da.
LÚC CÓ THAI và LÚC NUÔI CON
BÚ
Tính an toàn của Erythrogel 4% (Eryacne 4%) lúc
có thai hay đang cho con bú chưa được xác định. Không biết được rằng
erythromycin khi dùng cho người phụ nữ có thai có thể gây nguy hại đến thai nhi
hoặc ảnh hưởng đến khả năng sinh đẻ hay không. Chỉ nên dùng thuốc này lúc có
thai nếu thật sự cần thiết.
Không biết được erythromycin có tiết qua sữa mẹ
khi dùng tại chỗ hay không. Tuy nhiên, tác dụng này đã được quan sát khi dùng
theo đường uống và đường tiêm. Do đó, nên cẩn thận khi dùng Erythrogel 4%
(Eryacne 4%) cho bà mẹ đang cho con bú.
TƯƠNG TÁC THUỐC
Tác dụng ngoại ý được báo cáo xảy ra trong điều
trị tại chỗ erythromycin bao gồm khô da, nhạy cảm, ngứa ngáy, da tróc vảy, nổi
ban, da nhờn và cảm giác rát bỏng. Kích ứng mắt cũng đã được báo cáo. Một trường
hợp phản ứng nổi mày đay lan tỏa, có thể có liên quan đến thuốc, cần phải điều
trị bằng steroid toàn thân đã được báo cáo. Hầu hết các phản ứng này có lẽ là do
thành phần rượu hay các tá dược khác hơn là erythromycin và đã hồi phục khi
ngưng hay kéo dài khoảng cách dùng thuốc.
LIỀU LƯỢNG và CÁCH DÙNG