Các thuốc kết hợp với liều cố định không được
chỉ định khi mới bắt đầu trị liệu. Bệnh nhân nên được chuẩn độ trên từng thuốc
riêng lẽ. Nếu sự kết hợp cố định này thích hợp với liều lượng đã được xác định
như trên, sự sử dụng càng thuận lợi hơn trong việc kiểm soát tình trạng bệnh.
Nếu trong quá trình điều trị duy trì cần có sự điều chỉnh liều, nên dùng từng
loại thuốc riêng biệt.
Apo-Amilzide (hydrochlororthiazide và amiloride
hydrochloride) được chỉ định dùng như liệu pháp duy trì trong các bệnh sau :
- bệnh nhân xơ gan cổ trướng và phù nề,
- bệnh nhân phù do tim hay cao huyết áp động
mạch bị nhược kali huyết hay trên những người mà sự duy trì nồng độ kali bình
thường được xem là rất quan trọng về mặt lâm sàng, nghĩa là, các bệnh nhân đang
dùng digitalis, bệnh nhân không hấp thu kali dễ dàng qua chế độ ăn uống hay bệnh
nhân loạn nhịp tim.
Sử dụng trong trường hợp xơ gan cổ trướng và
phù nề : Amiloride hydrochloride khi dùng riêng có thể cho tác dụng lợi tiểu
thỏa đáng cùng với việc giảm mất kali và giảm bớt nguy cơ nhiễm kiềm do chuyển
hóa. Trong những trường hợp đề kháng, amiloride hydrochloride có thể được sử
dụng với các thuốc lợi tiểu bài tiết kali để giúp tạo ra tác dụng lợi tiểu thỏa
đáng, trong khi vẫn duy trì cân bằng chất điện giải trong huyết thanh. Giống như
tất cả các liệu pháp điều trị xơ gan cổ trướng mục đích chủ yếu là làm giảm cân
từ từ và tránh mất cân bằng điện giải (xem Thận trọng lúc dùng).
CHỐNG CHỈ ĐỊNH
Tăng kali huyết : Tăng kali huyết, nghĩa
là nồng độ kali trong huyết thanh vượt quá 5,5 mEq mỗi lít, đã được nhận thấy
trên một vài bệnh nhân dùng amiloride hydrochloride riêng rẻ hay với thuốc lợi
tiểu. Đặc biệt tình trạng này sẽ trở nên trầm trọng đối với bệnh nhân lớn tuổi,
bệnh nhân tiểu đường và bệnh nhân nhập viện do xơ gan hay phù do tim, có tiền sử
suy thận hay đang dùng thuốc lợi tiểu mạnh. Do đã xuất hiện trường hợp tử vong
trên những bệnh nhân này, nên cần phải theo dõi cẩn thận những dấu hiệu lâm
sàng, xét nghiệm và điện tâm đồ để tìm những bằng chứng xuất hiện chứng tăng
kali máu và nhiễm acid. Việc theo dõi nồng độ kali trong huyết thanh rất quan
trọng vì chứng tăng kali huyết không phải bao giờ cũng đi kèm với điện tâm đồ
bất thường.
Các dấu hiệu và triệu chứng báo trước của chứng
tăng kali huyết bao gồm dị cảm, yếu cơ, mệt mỏi, liệt nhão các chi, nhịp tim
chậm, sốc và điện tâm đồ bất thường.
Khi có bất thường, điện tâm đồ trong trường hợp
tăng kali huyết được tiêu biểu bằng sóng T cao, có đỉnh hay nâng lên so với
trước đó. Cũng có thể có sự hạ thấp sóng R và gia tăng độ sâu của sóng S, rộng
hơn và có thể mất luôn sóng P, rộng và kéo dài phức hợp QRS, kéo dài khoảng PR
và rút ngắn ST.
Nếu xuất hiện chứng tăng kali huyết trên những
bệnh nhân dùng Apo-Amilzide (hydrochlorothiazide và amiloride hydrochloride) nên
ngưng thuốc ngay lập tức. Nếu nồng độ kali trong huyết thanh quá 6,5 mEq mỗi
lít, nên thực hiện các biện pháp chủ động để giảm bớt. Các biện pháp này bao gồm
truyền tĩnh mạch dung dịch sodium bicarbonate, uống hay truyền glucose với một
chế phẩm insuline tác động nhanh. Nếu cần thiết, một nhựa trao đổi cation như
sodium polystyrene sulfonate có thể được cho theo đường uống hay đường thụt.
Bệnh nhân tăng kali máu dai dẵng có thể cần làm thẩm phân.
Tiểu đường : Trong những bệnh nhân tiểu
đường chứng tăng kali huyết thường được báo cáo khi sử dụng amiloride
hydrochloride, đặc biệt khi có bệnh thận mãn tính hay nitơ-máu. Một vài trường
hợp tử vong đã xảy ra ở nhóm bệnh được nêu sau cùng này. Do đó, nếu cần thiết
trị liệu với amiloride hydrochloride, nên dùng cẩn thận trên bệnh nhân tiểu
đường hay nghi ngờ có tiểu đường và chỉ sau khi xác định đầu tiên tình trạng
chức năng thận.
Cần theo dõi cẩn thận nồng độ kali huyết thanh
trong suốt quá trình trị liệu.
Một bệnh nhân tiểu đường khó kiểm soát bị tăng
kali huyết trầm trọng khi dùng amiloride hydrochloride đã chết sau hai thử
nghiệm dung nạp glucose truyền tĩnh mạch lặp đi lặp lại. Do đó, nên ngưng dùng
amiloride tối thiểu ba ngày trước khi thử nghiệm dung nạp glucose.
Trên bệnh nhân tiểu đường, nhu cầu insulin có
thể gia tăng, giảm bớt hay không đổi tùy theo thành phần hydrochlorothiazide.
Chứng tiểu đường tiềm ẩn có thể biểu hiện trong quá trình sử dụng thuốc lợi tiểu
thiazide.
Nhiễm acid do chuyển hóa hay nhiễm acid do
hô hấp : Liệu pháp kháng bài tiết kali niệu nên được thực hiện chỉ khi có
theo dõi cẩn thận trên bệnh nhân mà chứng nhiễm acid chuyển hóa hay hô hấp có
thể xảy ra, như bệnh nhân mắc bệnh tim phổi, hay tiểu đường. Nếu dùng
Apo-Amilzide cho những bệnh nhân này, cần phải theo dõi thường xuyên cân bằng
acid-base. Nếu sự thay đổi cân bằng acid-base làm thay đổi tỷ lệ kali
trong/ngoài tế bào, và sự phát triển của chứng nhiễm độc acid có thể đi kèm theo
sự gia tăng nhanh chóng nồng độ kali trong huyết thanh.
Suy thận : bệnh nhân có chức năng thận
suy giảm ngoài những trường hợp được nêu trong phần "Chống chỉ định", và những
người có mức độ BUN quá 30 mg mỗi 100 ml, creatinine huyết thanh quá 1,5 mg mỗi
100 ml, hay giá trị urea huyết quá 60 mg mỗi ml không nên dùng thuốc mà không có
theo dõi cẩn thận và thường xuyên chất điện giải, creatinine và BUN trong huyết
thanh. Sự ứ đọng kali đi kèm với sự sử dụng Apo-Amilzide được gia tăng hơn khi
có suy thận và có thể dẫn đến sự tăng kali huyết nhanh chóng. Sự kéo dài quá
trình đào thải amiloride hydrochloride được quan sát thấy trên bệnh nhân suy
thận.
THẬN TRỌNG LÚC DÙNG
Mất cân bằng điện giải và gia tăng BUN :
Chứng nhược natri huyết và nhược chlorid huyết có thể xuất hiện trong quá trình
sử dụng Apo-Amilzide (hydrochlorothiazide và amiloride hydrochloride). Nhược
kali huyết cũng có thể xuất hiện mặc dù với tỷ lệ thấp hơn khi dùng thiazide
riêng rẻ. Thiếu hụt chloride thường là nhẹ và có thể được điều chỉnh bằng
ammonium chloride (trừ khi ở bệnh nhân có bệnh gan) và được ngăn ngừa dễ dàng
bằng cách dùng lượng muối thông thường. Gia tăng BUN đã được báo cáo và thường
đi kèm theo mất nước mạnh, đặc biệt khi kết hợp sử dụng các thuốc lợi tiểu trên
những bệnh nặng như những bệnh nhân xơ gan cổ trướng và nhiễm kiềm do chuyển hóa
hay những bệnh nhân phù do đề kháng. Do đó, theo dõi cẩn thận các chất điện giải
trong huyết thanh và mức độ BUN là quan trọng khi dùng Apo-Amilzide. Trên bệnh
nhân suy thận, chứng nitơ huyết có thể bộc phát hay gia tăng bởi
hydrochlorothiazide. Do đó, cần thiết phải theo dõi cẩn thận những bệnh nhân
này. Nếu chứng nitơ huyết gia tăng hay có thiểu niệu trong quá trình trị liệu,
nên ngưng dùng Apo-Amilzide.
Tác động liên quan đến lợi tiểu trên bệnh
nhân xơ gan : Bệnh nhân xơ gan cổ trướng không dung nạp các thay đổi cấp
trên sự cân bằng điện giải và thường có sẵn chứng nhược kali huyết như một kết
quả của sự tăng tiết aldosterone thứ phát kèm theo. Khi sử dụng thuốc lợi tiểu
dùng đường uống, nên cẩn thận theo dõi những bệnh nhân này và nên gây lợi tiểu
từ từ.
Bệnh não do gan biểu hiện bằng chứng rung rẩy,
lú lẫn và hôn mê đã được báo cáo có đi kèm với trị liệu bằng amiloride
hydrochloride.
Trên bệnh nhân xơ gan, chỉ dùng đơn thuần
amiloride hydrochloride, chứng vàng da đi kèm theo tiến trình bệnh trở nên nặng
hơn trong một vài trường hợp, tuy nhiên mối liên hệ với thuốc này là không rõ
ràng.
Sử dụng cho trẻ em : Tính an toàn của
amiloride hydrochloride ở trẻ em chưa được xác định : do đó, không nên dùng
Apo-Amilzide cho trẻ em.
Các thận trọng khác : Các thiazide có
thể làm giảm nồng độ PBI trong huyết thanh mà không có dấu hiệu gì của rối loạn
tuyến giáp.
Hydrochlorothiazide làm giảm đào thải calcium
và tăng đào thải magnesium.
Các thay đổi bệnh lý trên tuyến cận giáp với
chứng tăng calci huyết và giảm phosphate huyết đã được nhận thấy trên một vài
bệnh nhân khi dùng thiazide kéo dài. Không quan sát được các biến chứng thường
gặp của chứng tăng năng tuyến cận giáp như sỏi thận, hủy xương và loét dạ dày.
Nên ngưng dùng thiazide trước khi thực hiện các xét nghiệm về chức năng tuyến
cận giáp.
Chứng tăng acid uric huyết có thể xuất hiện hay
bệnh thống phong có thể bộc phát.
Nên quan sát bệnh nhân thường xuyên về khả năng
xảy ra rối loạn chức năng gan, phản ứng đặc ứng hay loạn tạo máu.
Phản ứng nhạy cảm với thiazide có thể xuất hiện
trên bệnh nhân có hay không có tiền sử dị ứng hay hen phế quản.
Khả năng hoạt hóa hay làm trầm trọng hơn chứng
lupus ban đỏ toàn thân đã được báo cáo khi sử dụng các thiazide.
LÚC CÓ THAI và LÚC NUÔI CON
BÚ
Lúc có thai :
Do các thí nghiệm lâm sàng còn giới hạn, không
nên sử dụng Apo-Amilzide lúc có thai.
Các nghiên cứu tính gây quái thai với amiloride
hydrochloride ở thỏ và chuột nhắt không cho thấy có bằng chứng gây nguy hại đến
phôi. Các nghiên cứu sinh sản ở chuột cống không cho thấy có bằng chứng làm giảm
bớt khả năng sinh sản. Với liều gấp 5 hay nhiều hơn liều tối đa hàng ngày dùng
cho người, một vài độc tính được quan sát thấy trên chuột cống và thỏ trưởng
thành và có một sự giảm tăng trưởng và tỷ lệ sống sót ở chuột con.
Ở chuột cống, có vết của hoạt chất đi qua hàng
rào nhau thai.
Các thiazide đi qua hàng rào nhau thai và hiện
diện trong máu cột sống. Do đó, việc sử dụng Apo-Amilzide lúc có thai hay nghi
ngờ là có thai cần cân nhắc giữa lợi ích do thuốc và nguy cơ có thể xảy ra cho
thai nhi. Các nguy cơ này bao gồm chứng vàng da phôi hay vàng da ở trẻ sơ sinh,
giảm tiểu cầu và những tác dụng ngoại ý khác có thể xảy ra ở người lớn.
Lúc nuôi con bú :
Ở người, amiloride hydrochloride không được
biết có tiết qua sữa mẹ hay không, tuy nhiên đã chứng minh được rằng amiloride
hydrochloride có tiết qua sữa ở chuột cống. Các thiazide có xuất hiện trong sữa
mẹ. Do khả năng có thể xảy ra tác dụng có hại cho trẻ được nuôi bằng sữa mẹ, nếu
cần thiết phải sử dụng Apo-Amilzide, bệnh nhân nên ngưng cho con bú.
TƯƠNG TÁC THUỐC
Tuy hiếm khi xảy ra, các tác dụng ngoại ý nặng
nhất do Apo-Amilzide (hydrochlorothiazide và amiloride hydrochloride) là chứng
tăng kali huyết có biểu hiện triệu chứng. Các thay đổi chuyển hóa khác xảy ra là
chứng tăng kali huyết không biểu hiện triệu chứng và hạ chlorid huyết.
Tỷ lệ xuất hiện các tác dụng ngoại ý sau đã
được báo cáo trên bệnh nhân được điều trị kết hợp chlorothiazide và amiloride
hydrochloride :
Tiêu hóa (trong 7,1% bệnh nhân) : Tỷ lệ
>= 3% : buồn nôn/chán ăn (3,7%) ; Tỷ lệ 1%-3% : tiêu chảy, đau bao tử, đau bụng
; Tỷ lệ <= 1% : táo bón, xuất huyết tiêu hóa, rối loạn tiêu hóa, thay đổi khẩu
vị, đầy bụng, nấc cụt, khát nước, chán ăn, đầy hơi, đắng miệng.
Hệ thần kinh trung ương (trong 13,9%
bệnh nhân) : Tỷ lệ >= 3% : nhức đầu (7,8%), chóng mặt (6,1%), cảm thấy yếu ớt
(4,0%) ; Tỷ lệ <= 1% : dị cảm/cảm giác tê dại, trạng thái sững sờ, chóng mặt,
mất ngủ, lo lắng, trầm cảm, buồn ngủ, lú lẫn tâm thần, rối loạn thị giác.
Da liễu (trong 5,2% bệnh nhân) : Tỷ lệ
>= 3% : nổi ban da (3,4%) ; Tỷ lệ từ 1-3% : ngứa ngáy ; Tỷ lệ <= 1% : bừng mặt.
Tim mạch (trong 4,3% bệnh nhân) : Tỷ lệ
từ 1-3% : loạn nhịp tim ; Tỷ lệ <= 1% : tim nhanh, ngộ độc digitalis, hạ huyết
áp thế đứng, đau thắt ngực.
Cơ xương (trong 3,7% bệnh nhân) : Tỷ lệ
từ 1-3% : đau chân ; Tỷ lệ <= 1% : co thắt cơ, đau khớp, đau ngực, đau lưng.
Hô hấp (trong 2,6% bệnh nhân) : Tỷ lệ từ
1-3% : khó thở ; Tỷ lệ <= 1% : nghẹt mũi.
Tiết niệu-Sinh dục (trong 1,7% bệnh
nhân) : Tỷ lệ <= 1% : bất lực, tiểu đêm, tiểu khó, tiểu không kiềm chế.
Nội tiết (trong 0,9% bệnh nhân) : Tỷ lệ
<= 1% : thống phong, mất nước.
Các tác dụng phụ khác (trong 2,6% bệnh
nhân) : Tỷ lệ từ 1-3% : mệt mỏi ; Tỷ lệ <= 1% : khó ở.
Các tác dụng phụ khác được báo cáo với từng
thành phần riêng biệt như sau :
Tim mạch : viêm mạch hoại tử (viêm mạch,
viêm mạch máu da).
Tiêu hóa : chức năng gan bất thường,
vàng da (vàng da ứ mật trong gan), hoạt hóa loét dạ dày có sẵn, co thắt, kích
ứng dạ dày, viêm tụy, khô miệng, viêm tuyến nước bọt.
Nội tiết : glucose niệu, tăng đường
huyết, tăng acid uric huyết.
Quá mẫn : Nổi mày đay, phản vệ.
Hô hấp : Suy hô hấp bao gồm viêm phổi.
Giác quan : Nhạy cảm ánh sáng, nhìn mờ
thoáng qua, chứng trông thấy sắc vàng.
Huyết học : Mất bạch cầu hạt, thiếu máu
bất sản, thiếu máu huyết tán, giảm bạch cầu, ban xuất huyết, giảm tiểu cầu, giảm
bạch cầu trung tính.
Các tác dụng phụ khác : Cảm giác không
được nghỉ ngơi, sốt.
LIỀU LƯỢNG và CÁCH DÙNG