Apo-Doxy (doxycycline) được chỉ định trong các
trường hợp sau :
Viêm phổi : Viêm phổi đơn hay đa thùy do
các chủng nhạy cảm của Pneumococcus, Streptococcus, Staphylococcus, H.
influenzae và Klebsiella pneumoniae.
Các nhiễm khuẩn đường hô hấp khác : Viêm
họng, viêm amiđan, viêm xoang, viêm tai giữa, viêm phế quản do các chủng nhạy
cảm của Streptococcus huyết giải bêta, Staphylococcus, Pneumococcus, và H.
influenzae.
Nhiễm khuẩn đường tiết niệu : viêm
thận-bể thận, viêm bàng quan, viêm niệu đạo, viêm niệu đạo lậu do các chủng vi
khuẩn nhạy cảm nhóm Klebsiella-Aerobacter, E. coli, Enterococcus,
Staphylococcus, Streptococcus và Neisseria gonorrhoeae.
Ở bệnh nhân trưởng thành bị viêm niệu đạo, viêm
cổ tử cung và viêm âm đạo với kết quả xét nghiệm dương tính cho Chlamydia
trachomatis và/hoặc Ureaplasma urealyticum, khi kết thúc trị liệu với
doxycycline phân tích lâm sàng và xét nghiệm không tìm thấy vi khuẩn. Có thể
xuất hiện tái phát hay tái nhiễm. Trong những trường hợp này, các số liệu giới
hạn không cho phép xác định lợi ích của trị liệu doxycycline hay cách điều trị
khác trên một số bệnh nhân. Chưa xác định tác dụng của thuốc với bệnh mãn tính.
Nhiễm khuẩn da và mô mềm : Chốc lở, mụn
nhọt, viêm mô tế bào, áp-xe, nhiễm khuẩn vết thương, viêm quanh móng do các
chủng nhạy cảm Staphylococcus aureus và albus, Streptococcus, E. coli và nhóm
Klebsiella-Aerobacter.
Nhiễm khuẩn đường tiêu hóa : do các
chủng nhạy cảm của Shigella, Salmonella và E. coli.
CHỐNG CHỈ ĐỊNH
Trên các nghiên cứu lâm sàng cho đến nay, không
có sự gia tăng nồng độ cũng như thời gian bán hủy trong huyết thanh của
doxycycline ở bệnh nhân suy thận. Apo-Doxy (doxycycline) với liều thông thường
có thể dùng cho những bệnh nhân này. Mặc dù không có bằng chứng về sự gia tăng
độc tính ở những bệnh nhân này, nên lưu tâm đến khả năng gia tăng độc tính trên
gan cũng như ở các cơ quan khác cho đến khi có đầy đủ số liệu về sự chuyển hóa
doxycycline trong các tình trạng như trên. Nên thực hiện các xét nghiệm chức
năng gan định kỳ ở bệnh nhân dùng liều cao hay kéo dài. Nếu có thể nên tránh
dùng đồng thời doxycycline với các tác nhân khác đã biết có gây độc tính trên
gan.
Đôi khi sự sử dụng kháng sinh có thể đưa đến
bội tăng các vi khuẩn nhạy cảm ; do đó, cần theo dõi bệnh nhân cẩn thận. Đã có
bằng chứng là doxycycline có thể có tác dụng yếu hơn trên hệ sinh thái đường
ruột so với các tetracycline khác.
Không nên dùng doxycycline cho phụ nữ có thai
hay cho con bú hoặc trẻ sơ sinh cho đến khi tính an toàn của thuốc trong những
trường hợp này đã được xác định, trừ phi bác sĩ xét thấy lợi ích cho bệnh nhân
cần thiết hơn nguy cơ có thể xảy ra cho thai nhi hay cho đứa bé.
Một vài bệnh nhân cao huyết áp có thể có phản
ứng quang động học với ánh mặt trời trong quá trình trị liệu với doxycycline.
Nếu xuất hiện phản ứng này hay bất kỳ phản ứng dị ứng nào khác, nên ngưng thuốc.
Gia tăng áp lực nội sọ cùng với phồng thóp đã
được quan sát thấy ở trẻ em dùng các tetracycline với liều trị liệu. Mặc dù chưa
biết cơ chế của hiện tượng này, các dấu hiệu và triệu chứng sẽ mất nhanh chóng
khi ngưng thuốc mà không để lại di chứng.
Tổn thương thực quản bao gồm viêm và loét thực
quản hiếm khi được báo cáo ở bệnh nhân dùng doxycycline theo đường uống. Nếu có
tổn thương này, nên ngưng dùng oxycycline cho đến khi lành vết thương. Các thuốc
kháng acid và/hoặc cimetidine có thể làm giảm bớt trong những trường hợp này. Để
giảm thiểu nguy cơ tổn thương thực quản, nên khuyên bệnh nhân dùng viên nang
hoặc viên nén Apo-Doxy với một lượng nước vừa đủ trong tư thế đứng hay ngồi
thẳng người lên.
TÁC DỤNG NGOẠI Ý
Giống như những kháng sinh phổ rộng khác, các
rối loạn tiêu hóa như buồn nôn, nôn mửa và tiêu chảy cũng như viêm lưỡi, viêm
miệng và viêm trực tràng có thể xuất hiện khi điều trị với Apo-Doxy
(doxycycline) nhưng hiếm khi cần phải ngưng thuốc. Đã có những báo cáo rất hiếm
về trường hợp viêm và loét thực quản khi dùng dạng viên nang doxycycline (xem
Chú ý đề phòng và Liều lượng).
Giống như các tetracycline khác, đã có báo cáo
về sự gia tăng SGOT hay SGPT, thiếu máu, giảm bạch cầu trung tính, tăng bạch cầu
ưa eosine, giảm bạch cầu hay gia tăng BUN, chưa biết được ảnh hưởng của các tác
dụng này.
LIỀU LƯỢNG và CÁCH DÙNG
Liều uống khuyến cáo cho Apo-Doxy (doxycycline)
ở người lớn cho đa số các nhiễm trùng nhạy cảm là một liều tấn công duy nhất 200
mg vào ngày điều trị thứ nhất sau đó là liều duy trì 100 mg mỗi ngày một lần vào
cùng một thời điểm trong ngày.
Phác đồ điều trị cho trẻ em trên 8 tuổi cân
nặng tối đa 100 pound là một liều tấn công duy nhất 2 mg/lb thể trọng vào ngày
thứ nhất, sau đó là liều duy trì 1 mg/lb mỗi ngày một lần vào cùng một thời điểm
trong ngày.
Do sự hấp thu không bị ảnh hưởng bởi thức ăn
hay sữa, nên dùng Apo-Doxy trong hay sau bữa ăn để giảm khả năng gây xót dạ dày.
Các chế phẩm kháng acid và sắt làm giảm hấp thu và không nên dùng đồng thời với
thuốc uống doxycycline.
Nên dùng viên nén và viên nang Apo-Doxy với
nhiều nước ở tư thế đứng hay ngồi thẳng để giảm bớt nguy cơ tổn thương thực
quản.
Trong các nhiễm trùng trầm trọng ở người lớn
như áp-xe phổi hay viêm xương tủy và nhiễm trùng đường tiểu mạn tính, có thể
dùng mỗi ngày một liều đơn 200 mg suốt đợt điều trị. Đối với những nhiễm trùng
nặng hơn ở trẻ em, có thể dùng liều đến 2 mg/lb.
Nên tiếp tục điều trị sau khi các triệu chứng
và sốt mất đi. Tuy nhiên, nên chú ý rằng các nồng độ kháng khuẩn hữu hiệu thường
còn hiện diện 24 đến 36 giờ sau khi ngưng điều trị với Apo-Doxy.
Khi dùng trong các nhiễm trùng Streptococcus,
nên điều trị 10 ngày để phòng ngừa sốt thấp khớp hay viêm thận-tiểu cầu.
Đối với điều trị nhiễm lậu cấp, liều khuyến cáo
là 200 mg lúc bắt đầu và 100 mg vào buổi tối trước khi ngủ vào ngày đầu tiên,
sau đó là 100 mg mỗi ngày hai lần trong 3 ngày.
Đối với điều trị nhiễm trùng niệu đạo không gây
biến chứng, nhiễm trùng bên trong cổ tử cung hay âm đạo ở người lớn có liên quan
đến Chlamydia trachomatis và Ureaplasma urealyticum : liều dùng là 100 mg theo
đường uống, hai lần một ngày, tối thiểu 10 ngày.
Không cần phải thay đổi phác đồ điều trị ở bệnh
nhân suy thận.
QUÁ LIỀU