Piroxicam được hấp thu tốt theo đường uống. Mức
độ và tốc độ hấp thu không bị ảnh hưởng bởi thức ăn hay các thuốc kháng acid.
Khi dùng thuốc hàng ngày, nồng độ trong huyết tương gia tăng trong vòng 5 đến 7
ngày để đạt đến trạng thái ổn định. Nồng độ ổn định này không tăng lên khi tiếp
tục dùng thuốc đều đặn hàng ngày.
Một nghiên cứu sinh khả dụng dùng liều đơn (20
mg) được thực hiện bởi Richardson và cộng sự để khảo sát sự khác biệt liên quan
đến tuổi tác và giới tính trên dược động học của piroxicam, người ta thấy rằng
phụ nữ lớn tuổi (62-75 tuổi) thanh thải piroxicam thấp hơn 33% so với phụ nữ trẻ
tuổi (20-31 tuổi), và có thời gian bán hủy tương ứng là 61,7 và 44,9 giờ. Không
có khác biệt đáng kể về tốc độ thanh thải giữa nam giới trẻ tuổi và lớn tuổi.
Nồng độ ổn định trong huyết tương ước lượng được là 5,7, 5,4 và 5,7
mg/ml ở phụ
nữ trẻ tuổi, nam giới trẻ tuổi và nam giới lớn tuổi so với 9,3
mg/ml
ở phụ nữ lớn tuổi. Kết quả này mâu thuẫn với nghiên cứu của Hobbs và cộng sự và
Woolf và cộng sự - hai tác giả này đã kết luận rằng tuổi tác không có hoặc ảnh
hưởng không đáng kể lên sự thanh thải và nồng độ ở trạng thái ổn định của
piroxicam.
Piroxicam được chuyển hóa rộng rãi và dưới 5%
liều dùng hàng ngày đào thải dưới dạng không thay đổi trong phân và nước tiểu.
Đường chuyển hóa chủ yếu là hydroxyl hóa vòng pyridyl, sau đó là sự liên hợp với
acid glucuronic và đào thải qua nước tiểu. Khoảng 5% liều dùng được đào thải và
chuyển hóa dưới dạng saccharin.
Quan sát trong 4 ngày ở hai mươi người đàn ông
khỏe mạnh dùng 20 mg piroxicam mỗi ngày dùng liều đơn hoặc chia làm nhiều lần
cho thấy giảm đáng kể lượng máu mất trung bình trong phân so với 10 người đàn
ông khỏe mạnh dùng 3,9 g acetylsalicylic acid mỗi ngày.
Nghiên cứu sinh khả dụng được thực hiện trên
người tình nguyện khỏe mạnh. Tốc độ và mức độ hấp thu sau một liều đơn 20 mg của
Feldene 10 mg và Apo-Piroxicam 10 mg ; và của Feldene 20 mg và Apo-Piroxicam 20
mg đã được xác định và so sánh. Kết quả có thể được tóm tắt như sau :
| |
Feldene 10 mg |
Apo-Piroxicam 10 mg |
% sai biệt |
| ACU 0-119 (mg.giờ/ml) |
112,96 |
113,66 |
+0,6 |
| Cmax (mg/ml) |
2,13 |
2,08 |
-2,2 |
| Tmax (giờ) |
1,8 |
2,7 |
+45,8 |
| t1/2 (giờ) |
50,8 |
55,1 |
+ 8,5 |
| |
Feldene 20 mg |
Apo-Piroxicam 20 mg |
% sai biệt |
| ACU 0-119 (mg.giờ/ml) |
119,42 |
113,84 |
-4,7 |
| Cmax (mg/ml) |
2,17 |
2,13 |
-6,0 |
| Tmax (giờ) |
2,6 |
2,4 |
-8,1 |
| t1/2 (giờ) |
52,3 |
52,1 |
-0,4 |
Kết luận : Sinh khả dụng của Apo-Piroxicam và
Feldene đã được đánh giá bằng cách so sánh vận tốc và mức độ hấp thu thuốc. Theo
những số liệu của nghiên cứu này, có thể kết luận rằng Apo-Piroxicam và Feldene
là tương đương về mặt sinh học và do đó, tương đương với nhau trên lâm sàng.
CHỈ ĐỊNH
Do ở người già có nguy cơ bị nhiều tác dụng phụ
do thuốc kháng viêm không steroid và bệnh nhân lớn tuổi, yếu ớt và suy kiệt kém
chịu đựng tác dụng phụ trên đường tiêu hóa hơn, nên xem xét dùng liều khởi đầu
thấp hơn thông thường và chỉ gia tăng liều nếu các triệu chứng không còn kiểm
soát được. Nên theo dõi những bệnh nhân này cẩn thận.
Hệ tiêu hóa : Nếu nghi ngờ hay đã xác
định loét dạ dày tá tràng, hoặc có xuất huyết hay thủng đường tiêu hóa, nên
ngưng thuốc, áp dụng những trị liệu thích hợp và theo dõi bệnh nhân cẩn thận.
Không có bằng chứng xác định rằng sử dụng đồng
thời chất đối kháng thụ thể histamine H2 và/hoặc thuốc kháng acid sẽ
ngăn ngừa tác dụng ngoại ý trên đường tiêu hóa hay cho phép tiếp tục dùng
piroxicam nếu các phản ứng này xuất hiện.
Chức năng thận : Giống như những thuốc
kháng viêm không steroid khác, sử dụng piroxicam lâu ngày trên thú vật làm hoại
tử nhú thận và các bệnh lý bất thường khác trên thận. Ở người, đã có những báo
cáo viêm thận mô kẽ cấp tính với chứng tiểu ra máu, tiểu protein và đôi khi có
hội chứng thận hư.
Dạng thứ nhì của độc tính trên thận đã được
quan sát thấy ở bệnh nhân có bệnh lý trước ở thận làm giảm tưới máu thận hay
giảm thể tích máu, khi các prostaglandin thận đóng vai trò hỗ trợ trong việc duy
trì tưới máu. Ở những bệnh nhân này, thuốc kháng viêm không steroid có thể gây
giảm tạo thành prostaglandin phụ thuộc liều lượng và có thể gia tăng chứng suy
thận mất bù. Bệnh nhân có nhiều nguy cơ xảy ra phản ứng này là những người bị
suy thận, suy tim, suy gan, đang dùng thuốc lợi tiểu, và người già. Thông
thường, việc ngưng thuốc kháng viêm không steroid sẽ phục hồi được tình trạng
ban đầu.
Piroxicam và các chất chuyển hóa của nó được
đào thải chủ yếu qua thận (dưới 5% liều hàng ngày được đào thải dưới dạng không
đổi) do đó nên cẩn thận khi sử dụng thuốc ở bệnh nhân suy thận. Trong những
trường hợp này, nên dùng liều Apo-Piroxicam thấp hơn và theo dõi bệnh nhân thật
cẩn thận. Hơn nữa, các thay đổi có thể hồi phục trên chức năng thận, viêm thận
kẽ, viêm cầu thận, hoại tử nhú thận và hội chứng thận hư cũng đã được báo cáo
với piroxicam.
Nên định kỳ kiểm tra chức năng thận khi điều
trị lâu ngày.
Chức năng gan : Với piroxicam, cũng như
các thuốc kháng viêm không steroid khác, có thể xảy ra sự gia tăng không rõ ràng
của một hay nhiều test chức năng gan ở tỷ lệ đến 15% bệnh nhân. Các bất thường
này có thể tiến triển, có thể kéo dài không thay đổi hay chỉ thoáng qua trong
quá trình tiếp tục dùng thuốc. Xét nghiệm SGPT (ALT) có lẽ là chỉ thị nhạy nhất
của hoạt động chức năng gan. Gia tăng đáng kể (gấp 3 lần giới hạn trên bình
thường) của SGOT và SGPT (AST) xuất hiện với tỷ lệ dưới 1% bệnh nhân trong các
thử nghiệm lâm sàng có kiểm chứng. Một bệnh nhân có triệu chứng và/hoặc dấu hiệu
suy gan hay có kết quả xét nghiệm chức năng gan bất thường nên được khám cẩn
thận để tìm bằng chứng của phản ứng gan nặng khi điều trị với piroxicam. Phản
ứng gan trầm trọng bao gồm vàng da và những trường hợp viêm gan gây tử vong đã
được báo cáo xuất hiện với piroxicam. Mặc dù những phản ứng này rất hiếm nhưng
nếu các kết quả xét nghiệm chức năng gan vẫn dương tính hoặc xấu hơn, nếu phát
triển những dấu hiệu và triệu chứng lâm sàng của bệnh gan, hay nếu có biểu hiện
toàn thân (như tăng bạch cầu ái toan, nổi ban...) nên ngưng piroxicam (xem thêm
Tác dụng ngoại ý).
Trong quá trình dùng thuốc kéo dài, nên làm xét
nghiệm chức năng gan định kỳ. Nếu cần phải dùng thuốc khi suy gan, cần theo dõi
thật chặt chẽ.
Cân bằng nước và chất điện giải : Giữ
nước và phù đã được quan sát ở 2% bệnh nhân được điều trị với piroxicam. Do đó,
cũng như nhiều thuốc kháng viêm không steroid khác, nên lưu ý đến khả năng gây
suy tim xung huyết trên bệnh nhân lớn tuổi hay người có suy yếu chức năng tim.
Nên dùng Apo-Piroxicam cẩn thận ở bệnh nhân suy tim, cao huyết áp hay những tình
trạng dẫn đến khả năng ứ nước, do sự sử dụng thuốc có thể làm nặng hơn.
Nên theo dõi định kỳ chất điện giải trong huyết
thanh khi điều trị dài ngày, đặc biệt ở bệnh nhân có nguy cơ.
Huyết học : Các thuốc ức chế sinh tổng
hợp prostaglandin ảnh hưởng đến chức năng tiểu cầu ở một vài mức độ ; do đó,
bệnh nhân có thể bị tác động bất lợi do tác động này nên được theo dõi cẩn thận
khi điều trị với Apo-Piroxicam.
Mặc dù với liều khuyến cáo 20 mg/ngày piroxicam
không làm tăng lượng máu trong phân do kích ứng dạ dày-ruột, khoảng 4% bệnh nhân
được điều trị với piroxicam riêng rẽ hay dùng phối hợp với acetylsalicylic acid,
đã quan sát được giảm hemoglobin và hematocrit. Do đó, nên định kỳ kiểm tra các
giá trị này nếu có dấu hiệu hay triệu chứng thiếu máu.
Hiếm khi có loạn tạo máu liên quan đến sự sử
dụng thuốc kháng viêm không steroid nhưng cũng có thể đi kèm với các hệ quả trầm
trọng khác.
Nhiễm khuẩn : Cũng giống như các kháng
viêm không steroid khác, piroxicam có thể che khuất các dấu hiệu của nhiễm
khuẩn.
Nhãn khoa : Nhìn mờ hay giảm thị lực đã
được báo cáo xuất hiện khi dùng piroxicam và các thuốc kháng viêm không steroid
khác. Nếu xuất hiện các triệu chứng này, nên ngưng thuốc và khám mắt ; nên khám
mắt định kỳ trên các bệnh nhân dùng thuốc lâu ngày.
Phản ứng quá mẫn : Sự kết hợp các dấu
hiệu và/hoặc triệu chứng trên da và dị ứng gợi ý đến bệnh huyết thanh đôi khi
xảy ra khi dùng piroxicam. Các triệu chứng này bao gồm : đau khớp, ngứa ngáy,
sốt, mệt mỏi và nổi ban bao gồm phản ứng bóng nước-mụn nước và viêm da tróc vãy.
Sử dụng trên trẻ em : Apo-Piroxicam
không nên sử dụng cho trẻ em dưới 16 tuổi do chưa xác định được liều lượng và
chỉ định trong trường hợp này.
LÚC CÓ THAI và LÚC NUÔI CON
BÚ
Tác dụng ngoại ý thường gặp nhất với kháng viêm
không steroid là trên đường tiêu hóa, trong đó loét dạ dày tá tràng, có hay
không có xuất huyết là trầm trọng nhất. Đôi khi có tử vong, đặc biệt là ở người
già.
Tỷ lệ tác dụng ngoại ý với piroxicam dựa trên
thử nghiệm lâm sàng bao gồm khoảng 2300 bệnh nhân, trong đó có khoảng 400 người
đã được điều trị hơn 1 năm và 170 người đã được điều trị hơn 2 năm. Khoảng 30%
tổng dố bệnh nhân dùng 20 mg piroxicam mỗi ngày đã bị tác dụng ngoại ý. Các
triệu chứng trên đường tiêu hóa là tác dụng ngoại ý nổi bật nhất xuất hiện trên
khoảng 20% bệnh nhân mà trong hầu hết các trường hợp không làm ảnh hưởng đến đợt
trị liệu. Trong số những bệnh nhân bị tác dụng ngoại ý trên đường tiêu hóa,
khoảng 5% ngưng dùng thuốc với tỷ lệ loét dạ dày tá tràng nói chung vào khoảng
1%.
Ngoài các triệu chứng trên đường tiêu hóa, phù
nề, chóng mặt, nhức đầu, thay đổi trên các thông số huyết học và nổi ban đã được
báo cáo xuất hiện trên một tỷ lệ nhỏ bệnh nhân. Soi đáy mắt và khám mắt bằng đèn
khe không cho thấy có bằng chứng thay đổi trên mắt ở 205 bệnh nhân được trị liệu
từ 3 đến 24 tháng.
Tiêu hóa (17,4%) : đau thượng vị (6,4%),
buồn nôn (4,1%), táo bón (2,4%), bụng khó chịu (2,2%), trướng bụng (2,1%), tiêu
chảy (1,8%), đau bụng (1,5%), khó tiêu (1,3%), chán ăn (1,2%) ; loét dạ dày
(khoảng 1%) ; viêm miệng, buồn nôn, nôn ra máu, phân có máu đen, xuất huyết tiêu
hóa và thủng (xem Chú ý đề phòng), khô miệng, viêm tụy, mỗi tác dụng ngoại ý
xuất hiện với tỷ lệ dưới 1% số bệnh nhân được điều trị.
Dị ứng (< 1%) : phản vệ, co thắt phế
quản, nổi mày đay/phù mạch, viêm mạch, bệnh huyết thanh (xem Thận trọng lúc
dùng), mỗi tác dụng ngoại ý xuất hiện với tỷ lệ dưới 1% số bệnh nhân được điều
trị.
Hệ thần kinh trung ương (5%) : nhức đầu
(1,8%), khó ở (1,0%) ; chóng mặt, buồn ngủ/an thần, choáng váng, trầm cảm, ảo
giác, mất ngủ, lo lắng, dị cảm, thay đổi tính tình, giấc mơ bất thường, lú lẫn
tâm thần, mỗi tác dụng ngoại ý xuất hiện với tỷ lệ dưới 1% số bệnh nhân được
điều trị.
Da (2,0%) : nổi ban da (2,0%), ngứa
ngáy, ban đỏ, bầm tím, tróc vảy da, viêm da tróc vảy, ban đỏ đa dạng, hoại tử
nhiễm độc da, phản ứng mụn nước-bóng nước trên da, bong móng, hội chứng
Stevens-Johnson, phản ứng da dị ứng ánh sáng, mỗi tác dụng ngoại ý xuất hiện với
tỷ lệ dưới 1% số bệnh nhân được điều trị.
Tim mạch/hô hấp (1%) : phù nề (xem Thận
trọng lúc dùng), các tác dụng ngoại ý sau xuất hiện với tỷ lệ dưới 1% số bệnh
nhân được điều trị : cao huyết áp, đánh trống ngực, khó thở, suy tim sung huyết
nặng hơn (xem Thận trọng lúc dùng), tăng đau thắt ngực.
Giác quan (1%) : ù tai (khoảng 1%); nhìn
mờ, kích ứng/sưng mắt, mỗi tác dụng ngoại ý xuất hiện với tỷ lệ dưới 1% số bệnh
nhân được điều trị.
Huyết học (15%) : giảm hemoglobin (4,6%)
và hematocrit (4,2%) (xem Thận trọng lúc dùng), giảm tiểu cầu (2,4%), tăng bạch
cầu ái toan (1,8%), tăng bạch cầu (1,7%), tăng bạch cầu ưa base (1,7%), giảm
bạch cầu (1,4%) ; nổi ban đốm xuất huyết, bầm máu, suy tủy bao gồm thiếu máu bất
sản, chảy máu cam, mỗi tác dụng ngoại ý xuất hiện với tỷ lệ dưới 1% số bệnh nhân
được điều trị.
Thận (1%) : phù nề (1,6%) (xem Thận
trọng lúc dùng) ; khó tiểu, tiểu máu, tiểu protein, viêm thận mô kẽ, suy thận,
hoại tử nhú thận, tăng kali huyết, viêm cầu thận, hội chứng thận hư (xem Thận
trọng lúc dùng), mỗi tác dụng ngoại ý xuất hiện với tỷ lệ dưới 1% số bệnh nhân
được điều trị.
Gan (< 1%) : vàng da, viêm gan, bất
thường chức năng gan (xem Thận trọng lúc dùng), mỗi tác dụng ngoại ý xuất hiện
với tỷ lệ dưới 1% số bệnh nhân được điều trị.
Chuyển hóa <( 1%) : hạ đường huyết, tăng
đường huyết, tăng/giảm cân, mỗi tác dụng ngoại ý xuất hiện với tỷ lệ dưới 1% số
bệnh nhân được điều trị.
Các tác dụng ngoại ý khác (< 1%) : đổ mồ
hôi, đau (quặn), sốt, hội chứng dạng cúm (xem Thận trọng lúc dùng), suy yếu mỗi
tác dụng ngoại ý xuất hiện với tỷ lệ dưới 1% số bệnh nhân được điều trị.
Thêm vào đó, một số ít báo cáo còn nêu ra tình
trạng chậm lành vết thương, viêm tĩnh mạch huyết khối, bệnh pemphigus, rụng tóc,
đau vú, giảm hay mất tình dục, bất lực, tiểu thường xuyên, giảm tiểu, đa kinh,
mất trí nhớ, lo lắng, rung rẩy, điếc, khát nước, ớn lạnh, tăng cảm giác thèm ăn,
ngồi nằm không yên, tim nhanh, bừng mặt, đổi màu răng, viêm lưỡi, đau ngực, và
tác nhân kháng nhân dương tính (ANA) ; chưa xác định được mối liên hệ nhân quả
cho các phản ứng phụ hiếm nêu trên.
LIỀU LƯỢNG và CÁCH DÙNG