Tính chất dược động học của fluconazole khi
dùng theo đường uống và đường tiêm tĩnh mạch cũng tương tự nhau. Fluconazole
được hấp thu dễ dàng sau khi uống và đạt đến nồng độ trong huyết tương (và sinh
khả dụng toàn thân) trên 90% nồng độ đạt được sau khi tiêm tĩnh mạch. Sự hấp thu
theo đường uống không bị ảnh hưởng khi dùng đồng thời với thức ăn. Nồng độ đỉnh
trong huyết tương lúc đói đạt được từ 0,5 đến 1,5 giờ sau khi uống với thời gian
bán hủy đào thải trong huyết tương vào khoảng 30 giờ. Nồng độ huyết tương tỷ lệ
với liều lượng và đạt đến 90% nồng độ ổn định vào ngày 4-5 khi dùng nhiều lần
liều duy nhất mỗi ngày.
Liều tấn công (vào ngày thứ nhất) gấp đôi liều
thông thường hàng ngày cho phép đạt đến khoảng 90% nồng độ ổn định trong huyết
tương vào ngày thứ hai. Thể tích phân bố đo được gần bằng tổng lượng nước của cơ
thể. Thuốc ít gắn kết với proteine huyết tương (11-12%).
Fluconazole xâm nhập tốt vào tất cả các mô cơ
thể. Nồng độ fluconazole trong nước bọt và đờm tương tự như nồng độ trong huyết
tương. Ở những bệnh nhân viêm màng não do nấm, nồng độ flucoanzole trong dịch
não tủy khoảng 80% nồng độ tương ứng trong huyết tương.
Nồng độ fluconazole ở da cao trên mức nồng độ
trong huyết thanh đạt được ở lớp sừng, thượng bì-biểu bì và mồ hôi. Fluconazole
tích tụ trong lớp sừng. Với liều 50 mg mỗi ngày một lần, nồng độ fluconazole sau
12 ngày là 73 mg/g
và sau khi ngưng điều trị 7 ngày nồng độ vẫn còn duy trì 5,8
mg/g.
Với liều 150 mg mỗi tuần một lần, nồng độ fluconazole trong lớp sừng vào ngày
thứ bảy là 23,4 mg/g
và 7 ngày sau liều thứ hai vẫn còn giữ được là 7,1
mg/g.
Nồng độ fluconazole ở móng sau 4 tháng dùng 150
mg mỗi tuần một lần là 4,05 mg/g
ở móng khỏe mạnh và 1,8
mg/g ở móng
bị nhiễm nấm ; fluconazole vẫn còn tìm thấy được trong móng 6 tháng sau khi
ngưng điều trị.
Đường đào thải chủ yếu của thuốc là ở thận, với
khoảng 80% liều dùng xuất hiện trong nước tiểu dưới dạng không đổi. Thanh thải
fluconazole tỷ lệ với thanh thải creatinine. Không thấy các chất chuyển hóa
trong máu.
Thời gian bán hủy trong huyết tương kéo dài làm
cơ sở cho việc trị liệu liều duy nhất trong bệnh Candida âm đạo dùng mỗi ngày
một lần và mỗi tuần một lần đối với những chỉ định khác.
Trong một nghiên cứu so sánh nồng độ trong nước
bọt và huyết tương sau liều duy nhất 100 mg fluconazole dưới dạng hỗn dịch uống
bằng cách súc và giữ lại trong miệng 2 phút rồi nuốt hay dùng dưới dạng viên
nang, nồng độ tối đa trong nước bọt của fluconazole sau khi uống hỗn dịch đạt
được sau 5 phút và gấp 182 lần so với khi dùng viên nang có nồng độ tối đa trong
nước bọt đạt được sau 4 giờ. Sau khoảng 4 giờ, nồng độ fluconazole trong nước
bọt là tương tự nhau. Diện tích dưới đường cong AUC (0-96) trung bình trong nước
bọt cao hơn đáng kể sau khi dùng dạng hỗn dịch khi so sánh với viên nang. Không
có sự khác biệt đáng kể trong tốc độ đào thải khỏi nước bọt hay các thông số
dược động học trong huyết tương cho cả hai dạng bào chế.
AN TOÀN TIỀN LÂM SÀNG
Có thể điều trị trước khi có kết quả mẫu cấy và
các xét nghiệm, tuy nhiên, khi có kết quả nên điều chỉnh trị liệu cho thích hợp.
- Các bệnh do Cryptococcus, bao gồm viêm màng
não và nhiễm Cryptococcus ở các vị trí khác (như ở phổi, da). Cũng có thể điều
trị các ký chủ thông thường và bệnh nhân bị nhiễm AIDS, cấy ghép cơ quan hay
những nguyên do gây suy giảm miễn dịch khác.
- Các bệnh Candida toàn thân, bao gồm nhiễm
Candida huyết, Candida khu trú và các dạng khác của nhiễm Candida xâm lấn bao
gồm nhiễm nấm ở phúc mạc, nội tâm mạc, mắt, đường hô hấp và đường niệu. Thuốc có
thể dùng trong trường hợp các bệnh nhân bệnh ác tính, đang cấp cứu, dùng các
thuốc độc tế bào hay suy giảm miễn dịch, hay có những tác nhân khác có thể dẫn
đến nhiễm Candida.
- Bệnh Candida niêm mạc bao gồm Candida miệng
hầu, thanh quản, phế quản-phổi không xâm lấn, Candida niệu, Candida da niêm mạc
và Candida ở miệng thể teo mãn tính (loét miệng do răng giả). Có thể dùng điều
trị các ký chủ thông thường và bệnh nhân suy giảm miễn dịch và ngăn ngừa tái
phát bệnh Candida miệng hầu ở những bệnh nhân AIDS.
- Candida sinh dục. Bệnh Candida âm đạo cấp hay
tái phát ; dự phòng làm giảm tỷ lệ tái phát Candida âm đạo (3 hay nhiều cơn mỗi
năm). Viêm quy đầu do Candida.
- Ngăn ngừa nhiễm nấm do hóa trị liệu độc tế
bào hay xạ trị dùng trong điều trị các bệnh ác tính.
- Nấm da bao gồm nấm chân, nấm thân, nấm đùi,
lang ben, nấm móng và trường hợp nhiễm Candida da khác.
- Nấm sâu, bao gồm bệnh nấm Coccidioides
immitis, bệnh nấm Paracoccidioides, bệnh nấm Sporotrichum và nhiễm nấm
Histoplasma trên những bệnh nhân suy giảm miễn dịch.
CHỐNG CHỈ ĐỊNH
Trong những trường hợp hiếm, fluconazole đi kèm
với nhiễm độc gan nặng có thể gây tử vong, chủ yếu ở những bệnh nhân mắc bệnh
nặng. Trong trường hợp độc tính trên gan do fluconazole, không quan sát được mối
liên hệ rõ ràng với tổng liều dùng hàng ngày, thời gian kéo dài trị liệu, giới
tính hay tuổi tác của bệnh nhân. Độc tính trên gan của fluconazole thường hồi
phục khi ngưng thuốc. Bệnh nhân có những bất thường xét nghiệm trên chức năng
gan trong khi trị liệu với fluconazole nên được kiểm tra về sự phát triển của
các tổn thương gan trầm trọng hơn. Nên ngưng dùng fluconazole nếu phát triển các
dấu hiệu và triệu chứng lâm sàng gợi ý cho bệnh gan mà có thể là do fluconazole.
Hiếm khi bệnh nhân xuất hiện những phản ứng da
tróc vẩy như hội chứng Stevens-Johnson và hoại tử nhiễm độc da trong quá trình
điều trị với fluconazole. Bệnh nhân AIDS có nguy cơ cao hơn về phản ứng da trầm
trọng với nhiều loại thuốc. Nếu có nổi ban ở bệnh nhân được điều trị với nhiễm
nấm nông được cho là do fluconazole, nên ngưng dùng thuốc này. Nếu bệnh nhân
nhiễm nấm xâm lấn/toàn thân bị nổi ban, nên theo dõi chặt chẽ và ngưng
fluconazole nếu phát triển các sang thương bóng nước hay ban đỏ đa dạng. Phản vệ
cũng đã được báo cáo trong những trường hợp hiếm như với những hợp chất azole
khác.
Nên đặc biệt cẩn thận khi dùng fluconazole với
liều thấp hơn 400 mg mỗi ngày đồng thời với terfenadine (xem Tương tác thuốc).
Đã có những báo cáo về tai biến trên tim bao
gồm xoắn đỉnh ở bệnh nhân dùng cùng lúc fluconazole và cisapride (xem Tương tác
thuốc).
Trong những trường hợp hiếm, cũng như các azole
khác, đã có báo cáo về phản ứng phản vệ.
Tác động lên khả năng lái xe và thao tác máy
móc :
Kinh nghiệm với fluconazole cho thấy rằng trị
liệu hầu như không làm ảnh hưởng đến khả năng lái xe hay sử dụng máy móc.
LÚC CÓ THAI và LÚC NUÔI CON
BÚ
- Thuốc chống đông : Trong một nghiên cứu tương
tác thuốc, fluconazole làm gia tăng thời gian prothombine sau khi dùng warfarine
trên người nam khỏe mạnh. Mặc dù mức độ thay đổi là nhỏ (12%), nên kiểm tra cẩn
thận thời gian prothombine ở bệnh nhân dùng các thuốc kháng đông loại coumarin.
- Sulfonylurea : Fluconazole cho thấy làm kéo
dài thời gian bán hủy trong huyết thanh khi dùng đồng thời với các sulfonylurea
(chlorpropamide, glibenclamide, glipizide và tolbutamine) trên những người tình
nguyện khỏe mạnh. Có thể dùng đồng thời fluconazole và sulfonylurea uống ở bệnh
nhân tiểu đường, tuy nhiên nên lưu ý đến khả năng xuất hiện cơn hạ đường huyết.
- Hydrochlorothiazide : Trong một nghiên cứu
dược động, dùng cùng lúc nhiều liều hydrochlorithiazide cho người tình nguyện
khỏe mạnh đang uống fluconazole làm gia tăng nồng độ trong huyết tương của
fluconazole lên 40%. Bác sĩ nên lưu ý đến tác động này nhưng không cần phải thay
đổi liều lượng của fluconazole trên những người dùng đồng thời các thuốc lợi
tiểu.
- Phenytoin : Dùng đồng thời fluconazole và
phenytoin có thể làm gia tăng nồng độ phenytoin đến mức độ đáng kể về mặt lâm
sàng. Nếu cần thiết phải dùng hai thuốc này đồng thời, nên kiểm tra nồng độ và
điều chỉnh liều lượng phenytoin để duy trì nồng độ trị liệu.
- Thuốc tránh thai dùng theo đường uống : Hai
nghiên cứu động học với thuốc tránh thai phối hợp dùng theo đường uống đã được
thực hiện với đa liều fluconazole. Không có ảnh hưởng có liên quan đến nồng độ
hormone với liều 50 mg fluconazone, trong khi ở nồng độ 200 mg mỗi ngày, diện
tích dưới đường cong của ethilnyl estradiol và levonorgestrel gia tăng lần lượt
là 40% và 24%. Do đó, sự sử dụng đa liều fluconazole ở các mức độ này không chắc
là có thể có tác động lên hiệu lực của thuốc tránh thai phối hợp uống.
- Rifampicin : Dùng đồng thời fluconazole và
rifampicine làm giảm 25% diện tích dưới đường cong và rút ngắn 20% thời gian bán
hủy của fluconazole. Nên xem xét tăng liều dùng fluconazole ở bệnh nhân đang sử
dụng ripampicin.
- Cyclosporin : Một nghiên cứu động học trên
bệnh nhân ghép thận cho thấy fluconazole 200 mg dùng mỗi ngày làm gia tăng một
cách chậm chạp nồng độ cyclosporin. Tuy nhiên, theo một nghiên cứu dùng đa liều
với 100 mg mỗi ngày, fluconazole không làm ảnh hưởng nồng độ cyclosporin trên
bệnh nhân ghép tủy. Nên kiểm tra nồng độ cyclosporin trong huyết tương ở những
người đang sử dụng fluconazole.
- Theophylline : Trong một nghiên cứu tương tác
thuốc có kiểm soát placebo, sử dụng 200 mg fluconazole trong 14 ngày dẫn đến sự
giảm bớt 18% độ thanh thải trung bình trong huyết tương của theophylline. Nên
theo dõi các dấu hiệu ngộ độc theophylline ở bệnh nhân dùng liều cao hay những
người có nguy cơ gia tăng ngộ độc theophylline trong khi dùng fluconazole, và
điều chỉnh liều lượng cho thích hợp nếu có dấu hiệu độc tính.
- Terfenadine : Do sự xuất hiện của loạn nhịp
tim thứ phát do kéo dài khoảng QTc ở bệnh nhân dùng các thuốc kháng nấm loại
azole đồng thời với terfenadine, các nghiên cứu tương tác đã được thực hiện. Một
nghiên cứu với liều hàng ngày 200 mg fluconazole đã không chứng minh được sự kéo
dài đoạn QTc. Một nghiên cứu khác với liều hàng ngày 400 mg và 800 mg
fluconazole đã chứng minh rằng việc sử dụng 400 mg fluconazole hay nhiều hơn mỗi
ngày làm gia tăng đáng kể nồng độ terfenadine trong huyết tương khi dùng đồng
thời với thuốc này. Chống chỉ định dùng đồng thời fluconazole với liều 400 mg
hay nhiều hơn với terfenadine (xem Chống chỉ định). Nên cẩn thận theo dõi trong
trường hợp dùng đồng thời terfenadine với fluconazole liều mỗi ngày thấp hơn 400
mg.
- Cisapride : Đã có báo cáo về tai biến trên
tim bao gồm xoắn đỉnh ở bệnh nhân dùng cùng lúc fluconazole và cisapride.
- Rifabutin : Đã có báo cáo về tương tác giữa
fluconazole dùng đồng thời với rifabutin, làm tăng nồng độ rifabutin trong huyết
tương. Cũng có báo cáo về chứng viêm màng mạch nho ở bệnh nhân dùng đồng thời
hai thuốc này. Nên theo dõi cẩn thận bệnh nhân dùng phối hợp này.
- Tacrolimus : Đã có báo cáo về tương tác khi
dùng fluconazole đồng thời với tacrolimus làm tăng nồng độ tacrolimus. Cũng có
báo cáo về độc tính trên thận ở bệnh nhân dùng đồng thời hai thuốc này. Nên theo
dõi cẩn thận bệnh nhân dùng phối hợp này.
Zidovudine : Đã có hai nghiên cứu động học dẫn
đến kết quả là gia tăng nồng độ zidovudine có lẽ gây nên do việc giảm chuyển từ
zidovudine sang chất chuyển hóa chủ yếu của nó. Một nghiên cứu đã xác định nồng
độ zidovudine ở bệnh nhân AIDS hay ARC trước và sau khi dùng fluconazole 200 mg
mỗi ngày trong 15 ngày cho thấy có một sự gia tăng đáng kể trên diện tích dưới
đường cong của zidovudine (20%). Một nghiên cứu thứ hai theo cách thức đánh dấu
chéo ngẫu nhiên điều trị theo hai phác đồ với hai giai đoạn nghiên cứu nồng độ
zidovudine ở các bệnh nhân nhiễm HIV. Trong hai trường hợp cách nhau 21 ngày,
bệnh nhân được cho dùng zidovudine 200 mg mỗi tám giờ có hay không có kèm theo
400 mg fluconazole mỗi ngày trong vòng 7 ngày. Diện tích dưới đường cong của
zidovudine gia tăng (74%) trong quá trình sử dụng đồng thời với fluconazole. Nên
kiểm soát bệnh nhân dùng kết hợp thuốc này về sự phát triển các phản ứng phụ
liên quan đến zidovudine.
- Sự sử dụng fluconazole trên bệnh nhân dùng
đồng thời cisapride, astemizole, rifabutin, tacrolimus hay các thuốc khác chuyển
hóa bởi hệ thống cytochrome P-450 có thể đi kèm theo sự gia tăng nồng độ trong
huyết thanh của các thuốc này. Do không có thông tin xác định, nên cẩn thận khi
dùng đồng thời với fluconazole. Nên theo dõi bệnh nhân cẩn thận (xem Chú ý đề
phòng và Thận trọng lúc dùng).
- Các nghiên cứu tương tác thuốc đã cho thấy
rằng khi uống fluconazole chung với thức ăn, cimetidine, các thuốc kháng acid
hay chiếu xạ sau khi ghép tủy xương, sự hấp thu fluconazole không bị ảnh hưởng
đáng kể trên lâm sàng.
- Các bác sĩ nên lưu ý các tương tác khác có
thể xảy ra do nghiên cứu tương tác vẫn chưa được thực hiện với mọi loại thuốc.
TÁC DỤNG NGOẠI Ý
Liều lượng :
Liều fluconazole dùng hàng ngày được tính dựa
trên loại nhiễm nấm và mức độ trầm trọng. Hầu hết các trường hợp Candida âm đạo
đáp ứng với trị liệu liều duy nhất. Khi cần dùng đa liều để điều trị các trường
hợp nhiễm nấm khác, nên tiếp tục cho đến khi các thông số lâm sàng và kết quả
xét nghiệm cho thấy tình trạng nhiễm nấm hoạt tính đã giảm. Trị liệu không đầy
đủ có thể dẫn đến tái phát nhiễm nấm dạng hoạt động. Bệnh nhân AIDS và viêm màng
não do Cryptoccocus hay Candida miệng hầu tái phát thường cần phải trị liệu duy
trì để ngăn ngừa tái phát.
Ở người lớn :
- Đối với viêm màng não do Cryptococcus và
nhiễm Cryptococcus ở những nơi khác, liều thông thường là 400 mg vào ngày đầu
tiên sau đó dùng 200-400 mg mỗi ngày một lần. Thời gian điều trị nhiễm
Cryptococcus sẽ tùy thuộc vào đáp ứng lâm sàng và kết quả xét nghiệm nấm, nhưng
thường tối thiểu 6-8 tuần đối với viêm màng não do Cryptococcus.
Để ngăn ngừa tái phát viêm màng não do
Cryptococcus ở bệnh nhân AIDS, sau khi bệnh nhân kết thúc liệu trình ban đầu, có
thể dùng fluconazole một thời gian với liều hàng ngày 200 mg.
- Đối với nhiễm Candida huyết, Candida rải rác
và các dạng nhiễm Candida xâm lấn khác, liều thông thường là 400 mg vào ngày thứ
nhất sau đó là 200 mg mỗi ngày. Tùy theo đáp ứng trên lâm sàng, có thể gia tăng
liều đến 400 mg mỗi ngày. Thời gian điều trị dựa trên đáp ứng lâm sàng.
- Đối với chứng Candida miệng hầu, liều thông
thường là 50 đến 100 mg mỗi ngày một lần trong 7-14 ngày. Nếu cần thiết, có thể
điều trị lâu hơn trên những bệnh nhân suy giảm miễn dịch trầm trọng. Đối với
bệnh Candida thể teo ở miệng do răng giả, liều thông thường là 50 mg một lần mỗi
ngày trong 14 ngày cùng với các biện pháp sát khuẩn tại chỗ cho răng giả.
Đối với các nhiễm Candida khác của niêm mạc
(trừ trường hợp Candida sinh dục xem phần dưới) như viêm thực quản, Candida phế
quản-phổi không xâm lấn, Candida niệu, Candida da niêm mạc... liều hữu hiệu
thông thường là 50 đến 100 mg mỗi ngày dùng trong 14-30 ngày.
Để ngăn ngừa tái phát Candida miệng hầu ở bệnh
nhân AIDS, sau khi đã hoàn tất trị liệu ban đầu, fluconazole có thể được cho
dùng với liều 150 mg mỗi tuần một lần.
- Để điều trị Candida âm đạo, nên uống liều duy
nhất 150 mg fluconazole.
Để giảm bớt tỷ lệ tái phát Candida âm đạo, có
thể dùng liều 150 mg mỗi tháng một lần. Thời gian trị liệu nên tùy theo từng
người, khoảng 4-12 tháng. Một vài bệnh nhân có thể cần dùng thuốc thường xuyên
hơn.
Đối với viêm quy đầu do Candida, nên uống một
liều duy nhất 150 mg.
- Liều lượng khuyến cáo cho fluconazole để ngăn
ngừa Candida là 50 đến 400 mg một lần mỗi ngày, tùy theo nguy cơ phát triển nấm
ở bệnh nhân. Đối với trường hợp có nguy cơ nhiễm nấm toàn thân cao như ở bệnh
nhân có khả năng giảm bạch cầu trung tính kéo nặng hay kéo dài, liều khuyến cáo
là 400 mg mỗi ngày. Nên dùng fluconazole vài ngày trước khi khởi phát chứng giảm
bạch cầu trung tính như dự đoán và tiếp tục trong 7 ngày sau khi số lượng bạch
cầu trung tính tăng trên 1000/mm3.
- Đối với các trường hợp nhiễm nấm da bao gồm
nhiễm nấm da chân, thân, đùi và nhiễm Candida da, liều khuyến cáo là 150 mg một
lần mỗi tuần hay 50 mg một lần mỗi ngày. Thời gian điều trị thường là 2 đến 4
tuần nhưng có thể cần điều trị lâu hơn đến 6 tuần ở bệnh nấm da chân.
Đối với lang ben, liều khuyến cáo là 300 mg mỗi
tuần một lần trong 2 tuần ; ở một vài bệnh nhân có thể cần thêm một liều 300 mg
thứ ba vào tuần sau đó, trong khi, ở một vài bệnh nhân khác, có thể chỉ cần một
liều duy nhất 300-400 mg. Có thể dùng phác đồ điều trị khác là 50 mg mỗi ngày
một lần dùng trong 2 đến 4 tuần.
Đối với bệnh nấm móng, liều khuyến cáo là 150
mg một lần mỗi tuần. Nên tiếp tục điều trị cho đến khi móng bị nấm được thay thế
(nghĩa là mọc lên móng mới không bị nhiễm). Sự mọc trở lại móng tay và móng chân
thường cần khoảng thời gian tương ứng là 3 đến 6 tháng và 6 đến 12 tháng. Tuy
nhiên, tốc độ phát triển móng tùy theo từng người và theo tuổi tác. Đôi khi các
móng vẫn còn bị biến dạng sau khi đã được điều trị nhiễm nấm mãn tính.
- Đối với các bệnh nấm sâu, có thể cần đến liều
từ 200-400 mg mỗi ngày dùng đến 2 năm. Thời gian trị liệu tùy thuộc vào từng
người nhưng kéo dài từ 11 đến 24 tháng với nhiễm Coccidioidomyces, 2-17 tháng
với nhiễm Paracocidioidomyces, 1-16 tháng với Sporotrichosis và 3-17 tháng đối
với Histoplasma.
Ở trẻ em :
Giống như những nhiễm nấm tương tự trên người
lớn, thời gian điều trị dựa trên đáp ứng lâm sàng và kết quả xét nghiệm nấm.
Không nên dùng quá liều tối đa hàng ngày của người lớn cho trẻ em. Nên dùng
fluconazole một lần mỗi ngày.
Liều fluconazole khuyến cáo cho bệnh Candida
niêm mạc là 3 mg/kg mỗi ngày. Có thể dùng liều tấn công 6 mg/kg vào ngày thứ
nhất để thu được nồng độ ở trạng thái ổn định nhanh hơn.
Đối với Candida toàn thân và nhiễm
Cryptococcus, liều khuyến cáo là 6-12 mg/kg mỗi ngày, tùy theo mức độ trầm trọng
của bệnh.
Để ngăn ngừa nguy cơ nhiễm nấm ở bệnh nhân suy
giảm miễn dịch do hậu quả của chứng giảm bạch cầu trung tính do hóa trị liệu độc
tế bào hay xạ trị, nên dùng liều 3-12 mg/kg mỗi ngày tùy theo mức độ và thời
gian kéo dài của chứng giảm bạch cầu trung tính (xem liều cho người lớn).
Đối với trẻ em suy thận, nên giảm liều hàng
ngày theo hướng dẫn dành cho người lớn tùy theo mức độ suy thận.
Trẻ em dưới 4 tuần tuổi : fluconazole được đào
thải chậm ở trẻ sơ sinh. Trong hai tuần tuổi đầu tiên có thể dùng cùng liều
lượng tính theo kg thể trọng như ở trẻ lớn nhưng với khoảng cách mỗi 72 giờ. Từ
tuần thứ 2-4, có thể dùng liều lượng này mỗi 48 giờ.
Ở người già :
Khi không có bằng chứng suy thận, nên dùng liều
thông thường. Đối với bệnh nhân suy thận (thanh thải creatinine < 50 ml/phút)
nên điều chỉnh liều lượng như hướng dẫn bên dưới.
Ở bệnh nhân suy thận :
Fluconazole được đào thải chủ yếu trong nước
tiểu dưới dạng không đổi. Không cần phải điều chỉnh liều trong trường hợp dùng
một liều đơn duy nhất. Ở bệnh nhân suy thận phải dùng đa liều fluconazole, nên
dùng liều tấn công 50 đến 400 mg. Sau liều tấn công, liều hàng ngày (tùy theo
chỉ định) được tính dựa vào bảng sau :
| Thanh thải creatinine (ml/phút) |
Phần trăm so với liều khuyến cáo |
| > 50 |
100% |
| 11-50 |
50% |
| Bệnh nhân thẩm phân thường xuyên |
Một liều sau mỗi lần làm thẩm phân |
Cách dùng :
Fluconazole có thể dùng theo đường uống hay
tiêm truyền tĩnh mạch với tốc độ không quá 10 ml/phút. Đường sử dụng tùy theo
tình trạng lâm sàng của bệnh nhân. Khi chuyển từ cách dùng theo đường tĩnh mạch
sang đường uống hay ngược lại, không cần phải thay đổi liều hàng ngày.
Fluconazole được pha chế trong dung dịch sodium chloride 0,9%, mỗi 200 mg (chai
100 ml) chứa 15 mmol ion Na+ và Cl- mỗi loại. Do
fluconazole được pha loãng sẵn trong nước muối sinh lý, ở bệnh nhân cần giới hạn
natri hay giới hạn nước, nên xem xét cẩn thận tốc độ dịch truyền vào cơ thể.
Tính tương kỵ :
Fluconazole tiêm truyền tĩnh mạch tương hợp với
các dịch truyền sau :
- Dextrose 20%,
- Dung dịch Ringer,
- Dung dịch Hartmann,
- Potassium chloride trong dextrose,
- Sodium bicarbonate 4,2%,
- Aminofusin,
- Dịch truyền muối sinh lý.
Fluconazole có thể cho qua đường ống đang
truyền các dung dịch liệt kê ở trên. Mặc dù không có tương kỵ đặc hiệu được ghi
nhận, không nên trộn lẫn với bất kỳ thuốc nào khác trước khi truyền.
QUÁ LIỀU