Sultamicilin là một ester đôi, trong đó
ampicillin và chất ức chế bêta-lactamase sulbactam được gắn qua nhóm methylen.
Về mặt hóa học, sultamicilin là ester sulphone oxymethylpenicillinate của
ampicillin và có trọng lượng phân tử là 594,7.
Ở người trong quá trình hấp thu sultamicilline
sẽ thủy phân cho ra sulbactam và ampicillin tỷ lệ phân tử 1:1 lưu hành trong hệ
tuần hoàn. Sinh khả dụng khi sử dụng đường uống đạt tới 80% so với dùng đường
tĩnh mạch liều tương đương của sulbactam và ampicillin.
Những nghiên cứu sinh hóa học với các hệ vi
khuẩn không tế bào (cell-free bacterial systems) đã chứng minh sulbactam có khả
năng làm bất hoạt không hồi phục phần lớn các men bêta-lactamase quan trọng của
các vi khuẩn kháng penicillin. Sulbactam có hoạt tính kháng khuẩn đáng kể đối
với Neisseriaceae, Acinetobacter calcoaceticus, Bacteroides spp., Branhamella
catarrhalis và Pseudomonas cepacia. Những nghiên cứu vi sinh học trên các dòng
vi khuẩn kháng thuốc xác nhận sulbactam có khả năng bảo vệ penicillin và
cephalosporin không bị vi khuẩn phá hủy và có tác dụng đồng vận rõ rệt với
penicillin và cephalosporin. Do sulbactam cũng gắn với một số protein gắn kết
penicillin, cho nên đối với một số dòng vi khuẩn nhạy cảm, sử dụng kết hợp
sulbactam-ampicillin sẽ hiệu quả hơn là chỉ dùng một loại bêta-lactam.
Thành phần kết hợp với sulbactam trong Unasyn
là ampicillin có tính năng diệt những dòng vi khuẩn nhạy với thuốc bằng cách ức
chế sinh tổng hợp mucopeptide của vách tế bào.
Unasyn có phổ kháng khuẩn rộng đối với cả vi
khuẩn Gram dương và Gram âm, gồm có Staphylococcus aureus và S. epidermidis (gồm
cả những vi khuẩn đề kháng penicillin và một số vi khuẩn đề kháng methicillin),
Streptococcus pneumoniae, Streptococcus faecalis và các chủng Streptococcus
khác, Haemophilus influenzae và parainfluenzae (cả hai dòng vi khuẩn sinh
bêta-lactamase và không sinh bêta-lactamase), Branhamella catarrhalis, vi khuẩn
yếm khí gồm cả Bacteroides fragilis và những vi khuẩn cùng họ, Escherichia coli,
Klebsiella, Proteus gồm cả hai loại indole (+) và indole (-), Morganella
morganii, Citrobacter, Enterobacter, Neisseria meningitidis và Neisseria
gonorrhoeae.
DƯỢC ĐỘNG HỌC
Chỉ định sử dụng Unasyn uống trong những trường
hợp nhiễm khuẩn do vi khuẩn nhạy với thuốc. Chỉ định điển hình là nhiễm khuẩn
đường hô hấp trên gồm viêm xoang, viêm tai giữa và viêm amiđan ; nhiễm khuẩn
đường hô hấp dưới gồm viêm phổi và viêm phế quản do vi khuẩn ; nhiễm khuẩn đường
tiểu và viêm đài bể thận ; nhiễm khuẩn da và phần mềm ; nhiễm lậu cầu.
Sultamicillin cũng có thể dùng ở những bệnh
nhân cần điều trị bằng sulbactam/ampicillin sau khi đã điều trị khởi đầu bằng
Unasyn tiêm.
Chỉ định sử dụng Unasyn tiêm trong những trường
hợp nhiễm khuẩn do vi khuẩn nhạy với thuốc. Chỉ định điển hình là nhiễm khuẩn
đường hô hấp trên và đường hô hấp dưới gồm viêm xoang, viêm tai giữa và viêm
tiểu thiệt, viêm phổi do vi khuẩn ; nhiễm khuẩn đường tiểu và viêm đài bể thận ;
nhiễm khuẩn trong ổ bụng gồm viêm phúc mạc, viêm túi mật, viêm nội mạc tử cung,
viêm vùng chậu ; nhiễm khuẩn huyết ; nhiễm khuẩn da, phần mềm, xương và khớp và
nhiễm lậu cầu.
Unasyn tiêm cũng có thể được dùng để dự phòng ở
những bệnh nhân phẫu thuật ổ bụng hoặc vùng chậu nhằm mục đích tránh nhiễm khuẩn
vết thương hậu phẫu do nhiễm khuẩn phúc mạc. Dùng dự phòng nhiễm khuẩn hậu sản
trong những trường hợp chấm dứt thai kỳ chủ động hoặc mổ lấy thai. Unasyn tiêm
cũng được dùng để phòng nhiễm khuẩn hậu phẫu.
CHỐNG CHỈ ĐỊNH
Chú ý đề phòng :
Những phản ứng quá mẫn (phản vệ) trầm trọng đôi
khi gây tử vong đã được báo cáo ở những bệnh nhân dùng penicillin. Các phản ứng
này thường xảy ra ở người có tiền căn dị ứng pencicillin và/hoặc nhạy cảm với
nhiều dị ứng nguyên. Đã có những báo cáo về những người có tiền căn dị ứng với
penicillin có thể bị dị ứng khi dùng cephalosporin. Trước khi dùng pencicillin
phải hỏi kỹ tiền căn dị ứng trước đó, đặc biệt là dị ứng với pencillin,
cephalosporin, và các dị ứng nguyên khác. Khi điều trị nếu có dị ứng phải ngưng
thuốc ngay và đổi sang loại thuốc khác thích hợp .
Trong những trường hợp phản ứng phản vệ nặng,
cần cấp cứu ngay với adrenaline. Nếu cần cho thở oxy, tiêm steroid, làm thông
đường thở bao gồm cả việc đặt nội khí quản.
Thận trọng lúc dùng :
Như với mọi kháng sinh khác, cần theo dõi liên
tục các dấu hiệu của tình trạng quá sản của các vi sinh vật không nhạy với thuốc
kể cả nấm. Nếu có dấu hiệu bội nhiễm phải ngưng thuốc ngay và điều trị với loại
thích hợp hơn.
Như với mọi thuốc có tác dụng toàn thân khác,
nên kiểm tra định kỳ chức năng thận, gan và các cơ quan tạo máu trong thời gian
điều trị. Điều này rất quan trọng ở trẻ sơ sinh đặc biệt là trẻ non tháng, và
những trẻ nhũ nhi khác.
Sử dụng cho trẻ em :
Đường thải trừ chủ yếu của sulbactam và
ampicillin sau khi uống sultamicillin là qua nước tiểu. Vì chức năng thận ở trẻ
sơ sinh chưa hoàn chỉnh, cần lưu ý khi sử dụng sultamicillin ở trẻ sơ sinh.
LÚC CÓ THAI và LÚC NUÔI CON
BÚ
Dạng uống :
Sultamicillin là thuốc được dung nạp tốt. Đa số
các tác dụng ngoại ý nếu có xảy ra chỉ ở mức độ nhẹ hoặc trung bình và sẽ dung
nạp bình thường khi dùng tiếp tục.
Đường tiêu hóa : tác dụng ngoại ý thường
gặp nhất là tiêu chảy hoặc đi phân lỏng. Cũng có thể buồn ói, nôn mửa, nóng rát
vùng thượng vị, đau bụng/co thắt cơ bụng. Như với các kháng sinh nhóm ampicillin
khác, viêm đại tràng và viêm đại tràng giả mạc hiếm khi xảy ra.
Da và cấu trúc da : đôi khi gây mẩn đỏ
và ngứa.
Tác dụng ngoại ý khác : hiếm khi xảy ra
như lờ đờ/buồn ngủ, mệt mỏi/khó chịu và nhức đầu.
Tác dụng ngoại ý của ampicillin hiếm khi xảy
ra.
Vì bệnh nhiễm bạch cầu đơn nhân là do virus,
không nên sử dụng ampicillin để điều trị. Có một tỷ lệ cao bệnh nhân tăng bạch
cầu đơn nhân bị nổi mẩn đỏ khi sử dụng ampicillin để điều trị.
Dạng tiêm :
Giống như những kháng sinh đường tiêm khác, tác
dụng ngoại ý chủ yếu là đau tại chỗ tiêm, nhất là khi tiêm bắp. Một số ít bệnh
nhân có thể bị viêm tĩnh mạch.
Đường tiêu hóa : thường gặp là buồn nôn,
nôn mửa và tiêu chảy.
Da và cấu trúc da : thường gặp là nổi
mẫn đỏ, ngứa và các phản ứng da khác.
Hệ tạo máu và bạch huyết : đã có báo cáo
về thiếu máu, giảm tiểu cầu, tăng bạch cầu ái toan và giảm số lượng bạch cầu.
Những phản ứng này có thể hồi phục khi ngưng dùng thuốc, được cho là do phản ứng
nhạy cảm.
Gan : tăng tạm thời men SGOT và SGPT.
Tác dụng ngoại ý của ampicillin đôi khi có thể
xảy ra.
Vì bệnh nhiễm bạch cầu đơn nhân là do virus,
không nên sử dụng ampicillin để điều trị. Có một tỷ lệ cao bệnh nhân tăng bạch
cầu đơn nhân bị nổi mẩn đỏ khi sử dụng ampicillin để điều trị.
LIỀU LƯỢNG và CÁCH DÙNG
Dạng uống :
Liều sultamicillin khuyến cáo ở người lớn (gồm
cả người già) là 375 mg tới 750 mg hai lần mỗi ngày.
Trong hầu hết các trường hợp nhiễm khuẩn ở trẻ
em cân nặng dưới 30 kg, liều sultamicillin là 25-50 mg/kg/ngày chia thành hai
lần tùy thuộc mức độ nhiễm khuẩn và đánh giá của bác sĩ. Đối với trẻ em cân nặng
30 kg trở lên, dùng liều như người lớn.
Cả người lớn và trẻ em, sau khi hết sốt và
những dấu hiệu bất thường phải điều trị tiếp tục 48 giờ nữa. Thời gian điều trị
thường là từ 5 tới 14 ngày, nhưng có thể kéo dài thêm nếu cần thiết.
Điều trị nhiễm lậu cầu không triệu chứng, dùng
sultamicillin liều duy nhất 2,25 g (6 viên 375 mg). Có thể kết hợp với
probenecid 1 g để kéo dài nồng độ sulbactam và ampicillin trong huyết tương.
Trường hợp nhiễm lậu cầu mà có tổn thương nghi
ngờ giang mai, nên xét nghiệm bằng kính hiển vi nền đen trước khi cho điều trị
bằng sultamicillin và phải xét nghiệm huyết thanh học hàng tháng ít nhất trong 4
tháng liên tiếp.
Bất cứ trường hợp nhiễm khuẩn nào do liên cầu
tan huyết (hemolytic streptococci) phải điều trị ít nhất là 10 ngày để ngăn ngừa
sốt thấp hoặc viêm vi cầu thận cấp.
Ở bệnh nhân bị rối loạn chức năng thận nặng (độ
thanh thải creatinine nhỏ hơn
30 ml/phút), khả năng thải trừ sulbactam và
ampicillin cùng bị ảnh hưởng như nhau. Do đó, tỷ lệ nồng độ của hai thuốc trong
huyết tương không thay đổi. Phải giảm liều và số lần dùng sultamicillin ở những
bệnh nhân này giống như khi sử dụng ampicillin thông thường.
Hỗn dịch uống sau khi đã pha nếu muốn để lại
dùng tiếp phải giữ lạnh và hủy bỏ nếu để lâu quá 14 ngày.
Dạng tiêm :
Unasyn tiêm có thể được dùng đường tĩnh mạch
hoặc tiêm bắp. Có thể pha thuốc như sau :
| Tổng liều (g) |
Liều tương đương với Sulbactam-Ampicillin
(g) |
Lọ |
Thể tích hòa tan (ml) |
Nồng độ tối đa sau khi pha (mg/ml) |
| 1,5 |
0,5-1,0 |
Lọ 20 ml |
3,2 |
125-250 |
Khi tiêm truyền tĩnh mạch, Unasyn tiêm nên được
pha với nước pha tiêm vô khuẩn hoặc dung dịch thích hợp sao cho hỗn dịch sử dụng
không có cặn và hòa tan hoàn toàn. Tiêm tĩnh mạch thật chậm tối thiểu là 3 phút
hoặc có thể pha loãng để tiêm tĩnh mạch hay tiêm truyền tĩnh mạch trong 15-30
phút. Sulbactam/ampicillin sodium cũng có thể được sử dụng bằng cách tiêm bắp
sâu ; nếu bị đau, có thể pha thuốc với dung dịch pha tiêm vô khuẩn lignocaine
0,5%.
Tổng liều Unasyn tiêm thường dùng từ 1,5 g tới
12 g mỗi ngày, được chia ra mỗi 6 giờ hoặc 8 giờ cho tới liều tối đa mỗi ngày
của sulbactam là 4 g. Những trường hợp nhiễm khuẩn nhẹ có thể chia liều mỗi 12
giờ.
| Mức độ nhiễm khuẩn |
Liều Unasyn tiêm mỗi ngày (g) |
| Nhẹ |
1,5-3 (0,5+1 đến 1+2) |
| Trung bình |
lên đến 6 (2+4) |
| Nặng |
lên đến 12 (4+8) |
Liều dùng Unasyn tiêm cho hầu hết nhiễm khuẩn ở
trẻ em, nhũ nhi và trẻ sơ sinh là 150 mg/kg/ngày (tương ứng với sulbactam là 50
mg/kg/ngày và ampicillin là 100 mg/kg/ngày). Ở trẻ em, nhũ nhi và trẻ sơ sinh
liều thường được chia thành mỗi 6 giờ hoặc 8 giờ tương tự như dùng ampicillin
thông thường. Đối với trẻ sơ sinh một tuần tuổi (đặc biệt là trẻ non tháng) liều
thường được chia thành mỗi 12 giờ. Số lần tiêm trong ngày phụ thuộc vào mức độ
bệnh và chức năng thận của bệnh nhân.
Sau khi bệnh nhân hết sốt và không còn những
dấu hiệu bất thường phải tiếp tục dùng thêm 48 giờ nữa. Thời gian điều trị
thường từ 5 đến 14 ngày nhưng có thể kéo dài hoặc dùng thêm ampicillin trong
những trường hợp quá nặng.
Bệnh nhân bị suy thận nặng (độ thanh thải
creatinine nhỏ hơn 30 ml/phút), khả năng thải trừ sulbactam và ampicillin cùng
bị ảnh hưởng như nhau. Do đó, tỷ lệ nồng độ của hai thuốc trong huyết tương
không thay đổi. Nên giảm số lần tiêm giống như khi sử dụng ampicillin ở những
bệnh nhân này. Ở bệnh nhân phải hạn chế dùng sodium, khi điều trị bằng Unasyn
tiêm phải lưu ý rằng trong 1500 mg Unasyn tiêm có khoảng 115 mg (5 mmol) sodium.
Để dự phòng nhiễm khuẩn phẫu thuật, dùng từ 1,5
g đến 3 g Unasyn tiêm lúc tiền mê để thuốc đủ thời gian đạt nồng độ hiệu quả
trong huyết tương và mô khi tiến hành phẫu thuật. Có thể lặp lại liều trên mỗi 6
giờ hoặc 8 giờ ; thường ngưng thuốc 24 giờ sau phẫu thuật trừ khi có chỉ định
dùng thêm. Điều trị nhiễm lậu cầu không biến chứng, Unasyn tiêm có thể dùng liều
duy nhất 1,5 g. Có thể đồng thời uống thêm 1 g Probenecid để kéo dài nồng độ
sulbactam và ampicillin trong huyết tương.
Tính ổn định và tương hợp :
Sulbactam sodium tương hợp với hầu hết dịch
truyền tĩnh mạch nhưng vì ampicillin sodium (và vì vậy Unasyn tiêm) ít ổn định
trong dung dịch dextrose hoặc các dung dịch chứa carbohydrate khác, không nên
pha chung Unasyn với những dung dịch chứa sản phẩm từ máu hoặc ly giải đạm.
Ampicillin (và vì vậy Unasyn tiêm) không tương hợp với các aminoglycoside và
không nên pha trộn trong cùng một vật chứa. Dung dịch đậm đặc để tiêm bắp, sau
khi pha nên dùng trong vòng một giờ. Thời gian sử dụng nếu truyền tĩnh mạch đối
với những dung dịch pha thuốc khác nhau như sau :
| Dung dịch pha
loãng |
Nồng độ sulbactam
+ ampicillin |
Thời gian sử dụng (giờ) |
| 25oC |
4oC |
| Nước pha tiêm vô
khuẩn |
đến 45 mg/ml |
|
8 |
| 45 mg/ml |
|
48 |
| đến 30 mg/ml |
|
72 |
| Sodium choloride
đẵng trương |
đến 45 mg/ml |
8 |
|
| 45 mg/ml |
|
48 |
| đến 30 mg/ml |
|
72 |
| Dung dịch sodium
lactate M/6 |
đến 45 mg/ml |
8 |
|
| đến 45 mg/ml |
|
8 |
| Dung dịch
dextrose 5% trong nước |
15 đến 30 mg/ml |
2 |
|
| đến 3 mg/ml |
4 |
|
| đến 30 mg/ml |
|
4 |
| Dung dịch
dextrose 5% trong NaCl 0,45% |
đến 3 mg/ml |
4 |
|
| đến 15 mg/ml |
|
4 |
| Dung dịch đường
đã nghịch chuyển 10% trong nước |
đến 3 mg/ml |
4 |
|
| đến 30 mg/ml |
|
3 |
| Dung dịch Lactate
Ringer |
đến 45 mg/ml |
8 |
|
| đến 45 mg/ml |
24 |
|