Doxazosin có tác dụng giãn mạch thông qua hoạt
động ức chế chọn lọc và cạnh tranh ở vị trí sau khớp
a
1-adrenoceptor.
Doxazosin làm giảm huyết áp một cách đáng kể do
giảm kháng lực mạch máu toàn thân. Tác dụng này được cho là do ức chế chọn lọc
trên a
1-adrenoceptor nằm tại mạch máu. Liều dùng một lần duy nhất trong ngày làm giảm
đáng kể huyết áp suốt ngày và sau 24 giờ. Huyết áp giảm từ từ và đạt hiệu quả
tối đa sau 2-6 giờ uống thuốc. Bệnh nhân cao huyết áp, điều trị bằng doxazosin
có huyết áp tương tự như nhau ở cả hai tư thế nằm và đứng. Không giống như các
thuốc ức chế chọn lọc
a
adrenoceptor khác, điều trị lâu dài bằng doxazosin không gây hiện tượng lờn
thuốc. Cũng ít thấy hiện tượng tăng hoạt tính renin và nhịp nhanh khi trị liệu
lâu dài.
Doxazosin có tác dụng tốt trên lipid máu làm
tăng đáng kể tỷ lệ HDL/tổng cholesterol, giảm triglycerides và tổng cholesterol.
Thuốc có tác dụng thuận lợi hơn so với lợi tiểu và ức chế bêta vì những thuốc đó
có thể ảnh hưởng không tốt đến các thông số nói trên. Do có sự liên quan giữa
cao huyết áp và lipid máu với bệnh lý mạch vành, tác dụng trị liệu thích hợp của
doxazosin trên cả hai huyết áp và lipid máu làm giảm nguy cơ bệnh lý mạch vành.
Trị liệu bằng doxazosin làm giảm phì đại thất
trái, ức chế sự kết dính tiểu cầu và thúc đẩy tác dụng hoạt hóa plasminogen mô.
Thêm vào đó doxazosin cải thiện tính nhạy cảm với insulin ở bệnh nhân kém nhạy
cảm.
Trong một nghiên cứu lâm sàng có kiểm soát trên
bệnh nhân cao huyết áp, điều trị bằng doxazosin có liên quan với việc cải thiện
tình trạng rối loạn cương dương. Ngoài ra những bệnh nhân uống doxazosin cho
biết ít bị rối loạn cương dương so với những bệnh nhân uống các loại thuốc hạ áp
khác.
Việc dùng doxazosin cho những bệnh nhân bị bướu
lành tiền liệt tuyến cải thiện đáng kể chức năng đường tiểu và những triệu chứng
khác. Tác dụng trên bướu lành tiền liệt tuyến được cho là do ức chế chọn lọc
a-adrenoceptor
nằm trên mô stroma cơ tiền liệt tuyến, bao và cổ bàng quang.
Doxazosin cho thấy có tác dụng ức chế phân nhóm
1A của a1-adrenoceptor,
chiếm hơn 70% các phân nhóm trong tiền liệt tuyến. Điều này chứng tỏ tác dụng
của doxazosin trên những bệnh nhân bướu lành tiền liệt tuyến.
Doxazosin cũng cho thấy hiệu quả và an toàn khi
điều trị lâu dài bướu lành tiền liệt tuyến (trên 48 tháng).
Doxazosin cho thấy không có tác dụng phụ trên
chuyển hóa và thích hợp khi sử dụng trên bệnh nhân tiểu đường, hen phế quản, rối
loạn chức năng thất trái, bệnh gút và bệnh nhân cao tuổi.
Một nghiên cứu in vitro cho thấy đặc tính chống
oxy hóa của dạng chuyển hóa 6' và 7' hydroxy của doxazosin ở nồng độ 5
mmol.
DƯỢC ĐỘNG HỌC
Hấp thu :
Sau khi uống liều điều trị, doxazosin được hấp
thu tốt đạt nồng độ đỉnh vào khoảng hai giờ sau đó.
Chuyển hóa/Thải trừ :
Thải trừ làm hai giai đoạn với thời gian bán
thải là 22 giờ, điều này là cơ sở cho việc sử dụng liều duy nhất trong ngày. Ít
hơn 5% doxazosin bài tiết dưới dạng không đổi.
Nghiên cứu dược động học trên bệnh nhân cao
tuổi và bệnh nhân suy thận không thấy thay đổi đáng kể so với bệnh nhân trẻ có
chức năng thận bình thường. Dữ liệu trên bệnh nhân suy gan và tác động của những
thuốc ảnh hưởng trên chuyển hóa gan (như cimetidine) còn rất giới hạn. Như đối
với tất cả các loại thuốc chuyển hóa hoàn toàn qua gan, việc dùng doxazosin trên
bệnh nhân có chức năng gan thay đổi phải cẩn thận (xem phần Thận trọng lúc
dùng).
CHỈ ĐỊNH
Cao huyết áp :
Doxazosin được chỉ định trong điều trị cao
huyết áp và có thể dùng như loại thuốc kiểm soát cao huyết áp đầu tiên ở phần
lớn bệnh nhân. Doxazosin có thể dùng phối hợp với các loại thuốc hạ áp khác như
lợi tiểu thiazide, chẹn bêta, ức chế canxi hoặc ức chế men chuyển ở những bệnh
nhân không kiểm soát được với một loại thuốc hạ áp đơn thuần.
Bướu lành tiền liệt tuyến :
Doxazosin được chỉ định điều trị tắc nghẽn
đường tiểu và các triệu chứng kèm theo của bướu lành tiền liệt tuyến. Doxazosin
có thể dùng trên bệnh nhân bị bướu lành tiền liệt tuyến có hay không kèm theo
cao huyết áp. Điều trị bằng doxazosin có hiệu quả tốt ở những bệnh nhân bị bướu
lành tiền liệt tuyến kèm theo cao huyết áp và không làm thay đổi đáng kể về mặt
lâm sàng huyết áp của bệnh nhân bị bướu lành tiền liệt tuyến có huyết áp bình
thường.
CHỐNG CHỈ ĐỊNH
Trường hợp suy gan :
Như đối với bất kỳ các loại thuốc nào chuyển
hóa hoàn toàn qua gan, việc sử dụng doxazosin cần phải cẩn trọng ở bệnh nhân suy
gan (xem phần Dược động học).
Ảnh hưởng trên khả năng lái xe và vận hành
máy :
Khả năng lái xe hoặc vận hành máy có thể bị ảnh
hưởng, đặc biệt vào lúc bắt đầu điều trị.
LÚC CÓ THAI và LÚC NUÔI CON
BÚ
Phần lớn doxazosin trong huyết tương dưới dạng
gắn kết với protein (98%). Dữ liệu in vitro trên huyết tương người cho thấy
doxazosin không ảnh hưởng trong việc gắn kết protein của digoxin, warfarin,
phenytoin, hoặc indomethacin. Uống doxazosin không có bất kỳ một tương tác thuốc
ngoại ý nào trên lâm sàng với các thuốc lợi tiểu họ thiazide, frusemide, chẹn
bêta, các thuốc kháng viêm không steroid, kháng sinh, các thuốc hạ đường huyết
dạng uống, các thuốc tăng acid uric niệu hoặc thuốc chống đông.
TÁC DỤNG NGOẠI Ý
Cao huyết áp :
Trong các nghiên cứu lâm sàng có kiểm soát,
phản ứng thông thường nhất khi dùng doxazosin là hạ huyết áp tư thế (hiếm khi
ngất) hoặc không chuyên biệt, gồm cả chóng mặt, nhức đầu, mệt mỏi, khó chịu,
chóng mặt tư thế, choáng váng, phù, suy nhược, ngủ gà, buồn nôn và viêm mũi.
Khi thuốc lưu hành, có thêm một số tác dụng
ngoại ý dưới đây đã được báo cáo : một số trường hợp hiếm như khó chịu đường
tiêu hóa : đau bụng, tiêu chảy, ói mửa, kích động và run. Một số trường hợp cực
kỳ hiếm gặp như tiểu không tự chủ có lẽ do tác dụng dược lực của doxazosin. Một
số ca hiếm gặp bị cương đau dương vật và bất lực đã được báo cáo liên quan đến
việc dùng thuốc ức chế a-1
kể cả doxazosin. Một số trường hợp khác bị phát ban ngoài da, ngứa ngáy, giảm
tiểu cầu, chất xuất huyết, giảm bạch cầu, tiểu máu, ứ mật, vàng da, bất thường
men gan, chảy máu mũi và nhìn mờ cũng được báo cáo.
Những tác dụng ngọai ý thêm vào dưới đây đã
được báo cáo khi thuốc được lưu hành dùng điều trị bệnh nhân cao huyết áp, nói
chung không thể phân biệt với những triệu chứng có thể xảy ra khi không dùng
doxazosin : nhịp nhanh, hồi hộp, đau ngực, cơn đau thắt ngực, nhồi máu cơ tim,
tai biến mạch máu não, loạn nhịp tim và nhìn mờ.
Bướu lành tiền liệt tuyến :
Kinh nghiệm trên những cuộc thử nghiệm lâm sàng
có kiểm soát ở bệnh nhân bướu lành tiền liệt tuyến cho thấy các tác dụng ngoại ý
tương tự như ở bệnh nhân điều trị cao huyết áp.
LIỀU LƯỢNG và CÁCH DÙNG
Doxazosin có thể uống vào buổi sáng hoặc chiều.
Cao huyết áp :
Liều doxazosin có thể thay đổi từ 1-16 mg mỗi
ngày. Trị liệu nên bắt đầu với liều 1 mg, mỗi ngày một lần trong 1-2 tuần. Có
thể tăng lên 2 mg liều duy nhất mỗi ngày trong 1-2 tuần kế tiếp. Nếu cần thiết
liều hàng ngày có thể tăng từ từ mỗi 1-2 tuần lên 4 mg, 8 mg, và 16 mg dựa trên
đáp ứng của bệnh nhân để đạt được hiệu quả giảm áp mong muốn. Liều thông thường
là 2-4 mg mỗi ngày một lần.
Bướu lành tiền liệt tuyến :
Liều bắt đầu là 1 mg mỗi ngày một lần. Tùy
thuộc vào lượng nước tiểu và triệu chứng của bướu lành tiền liệt tuyến ở mỗi
bệnh nhân liều lượng có thể tăng lên 2 mg sau đó 4 mg và có thể tăng đến liều
tối đa được khuyến cáo là 8 mg. Việc chỉnh liều trong khoảng 1-2 tuần. Liều
thông thường là 2-4 mg một lần duy nhất trong ngày.
Trên bệnh nhân suy thận :
Dược động học của doxazosin không thay đổi trên
bệnh nhân suy thận và cũng không có bằng chứng cho thấy doxazosin làm nặng thêm
tình trạng bệnh lý thận nên có thể dùng liều thông thường ở những bệnh nhân này.
Đối với trẻ em :
Không có kinh nghiệm sử dụng doxazosin trên trẻ
em.
QUÁ LIỀU