Engerix-B tạo kháng thể đặc hiệu đối với HBsAg
(kháng thể anti-HBs). Hiệu giá kháng thể anti-Hbs trên 10 IU/ l đồng nghĩa với
hiệu quả bảo vệ chống nhiễm HBV.
Hiệu quả bảo vệ ở nhóm nguy cơ :
Trong các nghiên cứu lâm sàng, hiệu quả bảo vệ
từ 95% đến 100% đã được chứng minh ở trẻ sơ sinh, trẻ nhỏ và người lớn có nguy
cơ.
Ở trẻ sơ sinh có mẹ mang HBeAg dương tính, được
chủng ngừa ngay sau sinh theo phác đồ 0, 1, 2 hay 0, 1, 6 không kèm HBIg thì
hiệu quả bảo vệ được chứng minh là 95%. Tuy nhiên, việc tiêm HBIg cùng lúc với
vaccin ngay sau sinh sẽ tăng hiệu quả bảo vệ đến 98%.
Tỷ lệ chuyển dạng huyết thanh ở đối tượng
khỏe mạnh :
Khi theo phác đồ 0, 1, 6 tháng, >= 96% đối
tượng được chủng ngừa có kháng thể trong huyết thanh ở mức bảo vệ vào thời điểm
7 tháng sau liều đầu tiên.
Khi theo phác đồ cơ bản 0, 1, 2 tháng, và tiêm
một liều nhắc lại vào tháng thứ 12, tỷ lệ đối tượng được chủng ngừa có mức kháng
thể huyết thanh dương tính sau khi tiêm liều đầu tiên một tháng là 15%, và sau
khi hoàn tất phác đồ chủng ngừa cơ bản 1 tháng là 89%.
Một tháng sau khi tiêm liều nhắc lại, 95,8% đối
tượng được chủng ngừa có lượng kháng thể huyết thanh ở mức bảo vệ.
Để sử dụng trong những trường hợp ngoại lệ,
lịch chủng nhanh 0, 7, 21, cùng với một liều nhắc lại vào tháng thứ 12, tỷ lệ
đối tượng được tiêm có kháng thể huyết thanh ở mức bảo vệ trong vòng 1 và 5 tuần
sau khi hoàn tất lịch chủng cơ bản lần lượt là 65,2%, và 76%. Một tháng sau khi
tiêm liều nhắc lại, 98,6% đối tượng được chủng ngừa có lượng kháng thể huyết
thanh ở mức bảo vệ.
Giảm tỷ lệ ung thư tế bào gan ở trẻ em :
Tỷ lệ ung thư tế bào gan đã được ghi nhận là
giảm đáng kể ở trẻ em từ 6-14 tuổi sau khi thực hiện chương trình tiêm chủng
vaccin viêm gan B toàn quốc ở Đài Loan. Tỷ lệ kháng nguyên viêm gan được ghi
nhận là giảm rõ rệt (sự tồn tại của kháng nguyên này là một yếu tố thiết yếu làm
phát triển ung thư tế bào gan).
Dữ liệu an toàn tiền lâm sàng :
Các thử nghiệm thích hợp về tính an toàn đã
được thực hiện.
CHỈ ĐỊNH
Engerix-B được chỉ định để tạo miễn dịch chủ
động chống nhiễm tất cả những phó chủng đã biết của HBV trên các đối tượng được
xem là có nguy cơ tiếp xúc với HBV ở mọi lứa tuổi. Viêm gan D cũng có thể được
ngăn ngừa qua việc chủng ngừa với Engerix-B, vì viêm gan D (gây bởi tác nhân
delta) không xảy ra nếu không nhiễm viêm gan B. Về lâu dài, việc chủng ngừa viêm
gan siêu vi B không những làm giảm tỷ lệ mắc bệnh này mà còn cả các biến chứng
mạn tính như viêm gan B mạn tính thể hoạt động và xơ gan. Ở những vùng có tần
suất viêm gan B thấp, việc chủng ngừa được đề nghị đặc biệt cho những đối tượng
thuộc nhóm có nguy cơ lây nhiễm cao, tuy nhiên, việc tiêm chủng rộng rãi cho tất
cả các trẻ nhỏ và thanh thiếu niên sẽ góp phần kiểm soát bệnh viêm gan siêu vi B
trong cộng đồng. Ở những vùng có tần suất viêm gan B trung bình hoặc cao, với
phần lớn dân số có nguy cơ nhiễm HBV, chiến lược tốt nhất là tiêm chủng rộng rãi
cho trẻ sơ sinh, trẻ nhỏ, thanh thiếu niên, cũng như người lớn thuộc nhóm có
nguy cơ lây nhiễm cao. Tổ chức Y tế Thế giới, Hội đồng Tư vấn Thực hành Tiêm
chủng Hoa kỳ (ACIP) và Hội Nhi Khoa Hoa Kỳ khuyến cáo rằng việc chủng ngừa cho
trẻ sơ sinh và/hoặc thanh thiếu niên là chiến lược tối ưu để kiểm soát bệnh viêm
gan B ở mọi quốc gia.
Những đối tượng được ghi nhận là có nguy cơ lây
nhiễm cao :
- Nhân viên y tế.
- Bệnh nhân thường xuyên nhận các chế phẩm từ
máu.
- Nhân viên và cư dân ở những nơi tập trung.
- Người có nguy cơ cao do hành vi hoạt động
tình dục.
- Người tiêm chích ma túy.
- Người du lịch đến vùng có viêm gan B lưu hành
cao.
- Trẻ sinh từ mẹ mang HBV.
- Đối tượng xuất xứ từ những vùng có viêm gan B
lưu hành cao.
- Bệnh nhân thiếu máu tán huyết.
- Bệnh nhân nhận cơ quan ghép.
- Người tiếp xúc gần gũi trong gia đình với một
trong các nhóm trên hoặc với bệnh nhân nhiễm HBV cấp hay mạn tính.
- Đối tượng có bệnh gan mạn tính hoặc có nguy
cơ phát triển bệnh gan mạn tính (ví dụ : người mang virus viêm gan siêu vi C,
người nghiện rượu).
- Những đối tượng khác : cảnh sát, nhân viên
cứu hỏa, quân nhân và những người có khả năng tiếp xúc với HBV do công việc hoặc
cách sống của họ.
CHỐNG CHỈ ĐỊNH
Như những vaccin khác, nên tạm hoãn tiêm
Engerix-B cho những đối tượng đang có bệnh sốt cao cấp tính. Tuy nhiên, tình
trạng nhiễm trùng nhẹ không phải là chống chỉ định đối với việc chủng ngừa.
Do thời kỳ ủ bệnh của viêm gan B dài, có thể
vào lúc chủng ngừa bệnh nhân đã bị nhiễm virus mà không biết. Trong những trường
hợp như vậy, vaccin có thể không ngăn ngừa được sự nhiễm viêm gan B.
Vaccin không phòng ngừa nhiễm virus viêm gan A,
viêm gan C, viêm gan E hay những tác nhân gây viêm gan khác.
Đáp ứng miễn dịch đối với các vaccin viêm gan B
có có liên quan đến một số yếu tố, bao gồm tuổi cao, phái nam, béo phì, thói
quen hút thuốc lá và đường tiêm vaccin. Ở những đối tượng kém đáp ứng với vaccin
viêm gan B (ví dụ: người trên 40 tuổi...), các liều bổ sung có thể được xem xét.
Đối với những bệnh nhân thẩm phân máu, bệnh
nhân nhiễm HIV và những người bị suy giảm hệ thống miễn dịch, hiệu giá kháng thể
anti-HBs có thể không đạt được đầy đủ sau liệu trình chủng ngừa cơ bản và do đó
những bệnh nhân này cần tiêm thêm các liều bổ sung (xem "Liều đề nghị cho bệnh
nhân thẩm phân máu mạn tính" trong phần Liều lượng và Cách dùng).
Cũng như các loại vaccin tiêm khác, phương tiện
y tế và sự theo dõi thích hợp phải luôn được chuẩn bị sẵn để phòng trường hợp
sốc phản vệ (hiếm gặp) xảy ra sau khi tiêm vaccin.
Không nên tiêm Engerix-B vào cơ mông hay tiêm
trong da vì cách tiêm này có thể mang lại đáp ứng miễn dịch kém hơn.
Trong bất cứ trường hợp nào, cũng không nên
tiêm Engerix-B qua đường tĩnh mạch.
Lái xe và vận hành máy móc :
Vaccin không gây ảnh hưởng đến khả năng lái tàu
xe và vận hành máy.
LÚC CÓ THAI và LÚC NUÔI CON
BÚ
Engerix-B nói chung được dung nạp tốt.
Các tác dụng không mong muốn dưới đây, thường
nhẹ và thoáng qua, đã được báo cáo sau khi thực hiện việc chủng ngừa vaccin rộng
rãi. Cũng như các vaccin viêm gan B khác, trong nhiều trường hợp, mối liên hệ
giữa việc tiêm vaccin với các tác dụng ngoại ý không được thiết lập.
Thường gặp :
- Tại nơi tiêm : đau thoáng qua, hồng ban, chai
cứng da.
Hiếm gặp :
- Toàn thân : mệt mỏi, sốt, khó chịu, triệu
chứng như cảm cúm.
- Hệ thần kinh trung ương và ngoại biên : chóng
mặt, nhức đầu, dị cảm.
- Hệ tiêu hóa : buồn nôn, nôn, tiêu chảy, đau
bụng.
- Hệ gan mật : kết quả các thử nghiệm chức năng
gan thay đổi.
- Hệ cơ xương : đau khớp, đau cơ.
- Da và các phần phụ của da : phát ban, ngứa,
mề đay.
Rất hiếm gặp :
- Toàn thân : phản ứng phản vệ, bệnh huyết
thanh.
- Tim mạch : ngất, hạ huyết áp.
- Hệ thần kinh trung ương và ngoại biên : liệt,
bệnh thần kinh, viêm thần kinh (bao gồm hội chứng Guillain-Barré, viêm thần kinh
nhãn cầu và xơ hóa đa dây thần kinh), viêm não, bệnh não, viêm màng não.
- Hệ cơ xương : viêm khớp.
- Hệ hô hấp : các triệu chứng kiểu co thắt phế
quản.
- Da và các phần phụ của da : phù mạch, hồng
ban đa dạng.
- Hệ mạch ngoài tim : viêm mạch.
- Hệ bạch cầu và lưới nội mô : bệnh hạch bạch
huyết.
LIỀU LƯỢNG và CÁCH DÙNG
Liều lượng :
Vaccin liều 20
mg : liều 20
mg
(trong 1 ml hỗn dịch) được dùng cho đối tượng từ 20 tuổi trở lên.
Vaccin liều 10
mg : liều 10
mg
(trong 0,5 ml hỗn dịch) được dùng cho trẻ em từ sơ sinh đến 19 tuổi (kể cả 19
tuổi). Ở trẻ từ 10 đến 19 tuổi, có thể sử dụng liều 20
mg nếu đối
tượng được đánh giá là ít có khả năng tuân thủ lịch tiêm, vì số đối tượng chủng
ngừa đạt mức kháng thể bảo vệ (>= 10 UI /l) sau hai liều tiêm 20
mg có tỉ lệ
cao hơn.
Lịch chủng ngừa :
Chủng ngừa cơ bản :
- Để đạt được hiệu quả bảo vệ tối ưu, cần tiêm
bắp ba liều. Hai lịch chủng ngừa cơ bản có thể được đề nghị: lịch chủng ngừa có
khoảng cách thời gian giữa liều 2 và 3 dài hơn, như chủng ngừa vào các tháng 0,
1 và 6, có thể mất nhiều thời gian hơn mới mang lại hiệu quả bảo vệ, nhưng tạo
được hiệu giá kháng thể anti-HBs nhiều hơn sau ba liều tiêm. Lịch chủng ngừa này
được áp dụng cho trẻ em từ 19 tuổi trở xuống với Engerix-B liều 10
mg.
- Lịch chủng ngừa vào các tháng 0, 1 và 2 sẽ
mang lại hiệu quả bảo vệ nhanh hơn và bệnh nhân dễ tuân thủ lịch tiêm hơn. Liều
nhắc lại cần được tiêm vào tháng thứ 12. Ở trẻ nhỏ, phác đồ này cho phép tiêm
vaccin viêm gan B cùng lúc với những vaccin trẻ em khác.
Hai lịch chủng cơ bản trên đây có thể được điều
chỉnh cho phù hợp với thực hành tiêm chủng ở từng địa phương, liên quan đến
khuyến cáo về tuổi chủng ngừa những vaccin trẻ em khác.
Chủng ngừa nhanh :
Trong các trường hợp ngoại lệ ở người lớn, khi
cần có hiệu quả bảo vệ nhanh chóng hơn, ví dụ : những người đi đến vùng có bệnh
lưu hành cao và người bắt đầu lịch chủng viêm gan B trong vòng một tháng trước
khi khởi hành, có thể sử dụng phác đồ gồm ba mũi tiêm bắp vào các ngày thứ 0, 7
và 21. Khi áp dụng phác đồ này, cần tiêm nhắc lại một liều sau mũi đầu tiên 12
tháng (xem "Tỷ lệ huyết thanh chuyển dạng" trong phần Dược lực).
Liều nhắc lại :
Hiện nay vẫn chưa hoàn toàn xác định được rằng
những người có đáp ứng miễn dịch tốt đối với vaccin viêm gan B cần được tiêm
nhắc lại nhằm đảm bảo hiệu quả bảo vệ kéo dài hay không, hay sự nhắc lại tự
nhiên sẽ xảy ra khi đối tượng chủng ngừa tiếp xúc với virus. Mặc dù sự duy trì
của việc bảo vệ còn chưa được biết rõ, nhưng nói chung người ta thừa nhận rằng
hiệu giá kháng thể >= 10 IU/l là có khả năng bảo vệ. Nên tiêm liều nhắc lại khi
hiệu giá kháng thể anti-HBs xuống thấp hơn 10 IU/l, đặc biệt ở tất cả những đối
tượng có nguy cơ.
Thời điểm tiêm liều nhắc lại vaccin viêm gan B
tùy thuộc vào hiệu giá kháng thể đạt được sau khi hoàn tất lịch chủng ngừa cơ
bản.
Dựa trên những dữ liệu có được, đề nghị chung
cho liều nhắc lại như sau :
- Sau khi chủng ngừa cơ bản theo lịch 0, 1, 2
tháng, liều nhắc lại được tiêm sau liều đầu tiên 12 tháng. Trong những trường
hợp đặc biệt như đã nêu trên, khi sử dụng lịch chủng ngừa cơ bản 0, 7, 21 ngày,
liều nhắc lại cũng được đề nghị vào thời điểm 12 tháng sau liều đầu tiên. Liều
nhắc lại tiếp theo có lẽ không cần thiết trong ít nhất 8 năm sau phác đồ cơ bản.
- Sau khi chủng ngừa cơ bản theo lịch 0, 1, 6
tháng, liều nhắc lại có thể không cần thiết trong vòng 5 năm.
Liều đề nghị đặc biệt :
Liều đề nghị cho trẻ sơ sinh có mẹ mang HBV
:
Nên bắt đầu chủng ngừa với Engerix-B (10
mg) cho những
trẻ sơ sinh này từ lúc mới sinh, có thể sử dụng phác đồ 0, 1, 2 tháng hoặc 0, 1,
6 tháng ; Tuy nhiên, phác đồ 0, 1, 2 tháng mang lại đáp ứng miễn dịch nhanh hơn
(xem thêm trong phần Dược lực về việc dùng thêm HBIg cùng với vaccin ngay sau
khi sinh ở những trẻ này).
Liều đề nghị cho đối tượng được biết hoặc dự
đoán là có tiếp xúc với HBV :
Trong trường hợp đối tượng vừa tiếp xúc với HBV
(ví dụ : bị đâm phải kim tiêm đã nhiễm), liều Engerix-B đầu tiên có thể được sử
dụng đồng thời với HBIg, nhưng phải tiêm ở một vị trí khác. Nên sử dụng lịch
chủng nhanh.
Liều đề nghị cho bệnh nhân thẩm phân máu mạn
tính :
Lịch chủng ngừa cơ bản dành cho bệnh nhân thẩm
phân máu mạn tính bao gồm 4 liều, mỗi liều 40
mg, tiêm vào
ngày lựa chọn, 1 tháng, 2 tháng và 6 tháng kể từ ngày tiêm mũi đầu tiên. Lịch
chủng ngừa này có thể được điều chỉnh nhằm đảm bảo hiệu giá kháng thể anti-HBs
luôn cao hơn mức độ bảo vệ 10 UI/l.
Cách dùng :
Engerix-B nên được tiêm bắp vào vùng cơ delta
đối với người lớn và trẻ em, hay vào vùng trước bên của đùi đối với trẻ sơ sinh,
nhũ nhi và những trẻ nhỏ. Trường hợp ngoại lệ, vaccin có thể được tiêm dưới da ở
những bệnh nhân bị giảm tiểu cầu hay có những rối loạn chảy máu.
Trong bất cứ trường hợp nào cũng không được
tiêm Engerix-B qua đường tĩnh mạch.
Tương kỵ :
Không nên trộn lẫn Engerix-B với các vaccin
khác.
Hướng dẫn sử dụng/ thao tác :
Trước khi tiêm, vaccin phải được quan sát bằng
mắt thường xem có những phần tử lạ và/hay bất thường về màu sắc hay không.
Lắc kỹ vaccin trước khi sử dụng sao cho thu
được một hỗn dịch trắng, hơi đục.
Loại bỏ lọ vaccin nếu thành phần trong lọ có
biểu hiện khác.
Khi sử dụng dạng vaccin đa liều, mỗi liều phải
được lấy bằng một bơm tiêm và một kim tiêm vô trùng riêng. Cũng như đối với các
vaccin khác, cần tôn trọng tuyệt đối nguyên tắc vô khuẩn và thận trọng trong mỗi
lần lấy một liều vaccin để tránh ô nhiễm cho phần chứa trong lọ. Dùng các kim
tiêm khác nhau để lấy và tiêm vaccin.
BẢO QUẢN