Ở bệnh nhân suy thận, nên giảm liều theo độ
thanh thải creatinine. Tagamet có thể làm kéo dài sự đào thải của thuốc được
chuyển hóa qua con đường oxy hóa ở gan. Tương tác dược lý với các thuốc chống
đông loại uống, phenytoin, theophylline và lignocaine loại tiêm tĩnh mạch có thể
có ý nghĩa trên lâm sàng. Điều trị với Tagamet có thể che đậy các triệu chứng và
cho phép làm lành tạm thời ung thư dạ dày. Nên đặc biệt lưu ý đến khả năng làm
chậm trễ chẩn đoán ở bệnh nhân trung niên và cao tuổi hơn, mới bị các triệu
chứng đau dạ dày hay vừa mới thay đổi triệu chứng đau dạ dày. Nên thận trọng
theo dõi đều đặn bệnh nhân có tiền sử loét dạ dày, đặc biệt là ở người lớn tuổi
đang được điều trị với Tagamet và một thuốc kháng viêm không steroid. Ở bệnh
nhân đang điều trị bằng thuốc hay đang bị các bệnh có thể làm giảm số lượng tế
bào máu, nên lưu ý đến khả năng rằng tác động đối kháng thụ thể H2 có
thể làm tăng tác dụng này. Nồng độ cimetidine tuần hoàn trong máu bị giảm qua
lọc máu và nên dùng cimetidine sau khi lọc máu, tuy nhiên, nồng độ thuốc không
thay đổi trong thẩm phân phúc mạc. Nên tránh tiêm tĩnh mạch nhanh cimetidine
(dưới 5 phút).
LÚC CÓ THAI và LÚC NUÔI CON
BÚ
Trên 56 triệu bệnh nhân đã được điều trị với
Tagamet trên toàn thế giới và tác dụng ngoại ý được báo cáo không thường xuyên.
Tiêu chảy, chóng mặt, nổi ban hay viêm mạch quá mẫn, thường nhẹ và thoáng qua,
và chứng mệt mỏi cũng đã được báo cáo. Chứng to vú ở nam giới đã được ghi nhận
và hầu như hồi phục sau khi ngưng thuốc. Đôi khi có các báo cáo về gia tăng nồng
độ creatinine huyết tương, tăng transaminase huyết thanh và một vài trường hợp
viêm gan hiếm gặp. Đã xuất hiện tình trạng lú lẫn có hồi phục, thường là ở người
lớn tuổi hay bệnh nhân có sẵn bệnh nặng như ở bệnh nhân bị suy thận. Chứng giảm
tiểu cầu và giảm bạch cầu, bao gồm cả mất bạch cầu hạt, có tính hồi phục sau khi
ngưng thuốc đã được báo cáo hiếm khi xuất hiện ; giảm toàn thể huyết cầu và
thiếu máu bất sản đã được báo cáo rất hiếm. Có rất ít báo cáo về viêm thận kẽ,
viêm tụy cấp, sốt, nhức đầu, đau cơ, đau khớp, chậm nhịp xoang, nhịp tim nhanh
và blốc tim, tất cả đều có hồi phục khi ngưng điều trị. Cũng giống như các thuốc
đối kháng thụ thể H2 khác, có rất hiếm báo cáo về trường hợp phản vệ.
LIỀU LƯỢNG và CÁCH DÙNG
Tagamet thường được dùng theo đường uống, nhưng
có thể dùng theo đường tiêm hay qua ống thông mũi dạ dày để thay thế toàn bộ hay
một phần liều uống được đề nghị khi không thể dùng theo đường uống hay đường này
được cân nhắc cho là không thích hợp. Tổng liều hàng ngày theo bất cứ mọi đường
dùng thường không vượt quá 2,4 g. Nên giảm liều ở bệnh nhân suy thận.
Người lớn - dùng theo đường uống : Đối
với những bệnh nhân loét tá tràng hay loét dạ dày lành tính, nên dùng liều đơn
hàng ngày 800 mg vào lúc đi ngủ. Có thể dùng 400 mg hai lần mỗi ngày trong bữa
ăn sáng và vào lúc đi ngủ.
Người lớn - dùng theo đường tiêm bắp :
Liều tiêm bắp thường là 200 mg, có thể lập lại mỗi bốn đến sáu giờ.
Người lớn - dùng theo đường tiêm tĩnh mạch
: Liều tiêm tĩnh mạch thông thường là 200 - 400 mg, có thể lập lại mỗi bốn đến
sáu giờ. Nếu không thể tránh việc tiêm tĩnh mạch trực tiếp, nên tiêm chậm 200 mg
tối thiểu 5 phút, và có thể lập lại mỗi bốn đến sáu giờ. Tiêm tĩnh mạch nhanh có
thể gây loạn nhịp tim. Nếu bệnh nhân bị suy tim mạch, hay khi cần dùng liều cao
hơn, nên pha loãng liều và tiêm ít nhất 10 phút. Trong những trường hợp này tốt
hơn nên dùng theo đường tiêm truyền.
Người lớn tuổi : Có thể dùng liều thông
thường dành cho người lớn trừ phi có suy thận rõ rệt.
Trẻ em (trên 1 tuổi) : 25-30 mg/kg thể
trọng mỗi ngày chia làm nhiều lần theo đường uống hay đường tiêm.
Trẻ em (dưới 1 tuổi) : Chưa được khảo
sát đầy đủ ; sử dụng liều 20 mg/kg thể trọng mỗi ngày, chia làm nhiều lần.