Việc điều trị với chất đối kháng H2
histamine có thể che giấu các triệu chứng đi kèm với carcinome dạ dày và do đó,
có thể trì hoãn chẩn đoán bệnh này. Theo đó, khi nghi ngờ loét dạ dày nên loại
trừ khả năng ác tính trước khi bắt đầu điều trị với Zantac.
Ranitidine được đào thải qua thận và khi có sự
hiện diện của suy thận trầm trọng, nồng độ của ranitidine trong huyết tương gia
tăng. Vì vậy, khuyến cáo dùng Zantac với liều 25 mg cho những bệnh nhân này.
Có các báo cáo rằng sự sử dụng cao hơn liều
khuyến cáo thuốc tiêm tĩnh mạch thuốc kháng histamine H2 có thể gây
tăng men gan khi kéo dài điều trị này trên 5 ngày.
LÚC CÓ THAI và LÚC NUÔI CON
BÚ
Ranitidine không ức chế hệ thống men oxygénase
có chức năng phối hợp liên kết với cytochrome P450 của gan. Vì vậy, ranitidine
không làm tăng tác dụng của các thuốc bị oxy hóa hay làm bất hoạt bởi men này ;
các thuốc này bao gồm diazépam, lignocaine, phénytoine, propranolol,
théophylline và warfarine.
Thuốc tiêm Zantac tương thích với các dịch
truyền tĩnh mạch sau : NaCl 0,9%, dextrose 5%, NaCl 0,18% và dextrose 4%, sodium
bicarbonate 4,2% và dung dịch Hartmann. Mặc dù các nghiên cứu về tính tương hợp
chỉ được thực hiện với các túi dung dịch tiêm truyền polyvinyl chlorure (trong
bao bì thủy tinh cho sodium bicarbonate) và bộ dây tiêm truyền polyvinyl
chlorure, nên chú ý rằng tính tương hợp đầy đủ cũng có thể dùng để tham khảo khi
sử dụng túi tiêm truyền polyéthylène. Tất cả hỗn hợp Zantac và dịch truyền không
dùng đến nên được loại bỏ 24 giờ sau khi pha chế.
TÁC DỤNG NGOẠI Ý
Các tác dụng ngoại ý sau được báo cáo như các
tai biến trong các thử nghiệm lâm sàng hay trong việc kiểm soát thông thường các
bệnh nhân được điều trị với ranitidine. Mối liên quan trong nhiều trường hợp với
việc điều trị bằng ranitidine không được xác định. Các thay đổi thoáng qua và có
hồi phục trên các xét nghiệm chức năng gan có thể xảy ra. Đôi khi có những báo
cáo về chứng viêm gan có hồi phục (viêm tế bào gan, viêm đường mật trong gan hay
phối hợp cả hai) có hay không có vàng da.
Chứng giảm bạch cầu và giảm tiểu cầu hiếm khi
xảy ra và hồi phục trở lại khi ngưng thuốc.
Các trường hợp hiếm gây mất bạch cầu hạt, hay
giảm toàn thể huyết cầu, đôi khi có bất sản tủy đã được báo cáo.
Các phản ứng quá mẫn (mày đay, phù mạch thần
kinh, co thắt phế quản, hạ huyết áp) đã được quan sát thấy hiếm khi xuất hiện
sau khi dùng ranitidine theo đường tiêm và đường uống. Các phản ứng này đôi khi
cũng xảy ra với một liều duy nhất.
Tim chậm cũng được báo cáo xuất hiện rất hiếm.
Chứng nhức đầu, đôi khi trầm trọng và chóng mặt
đã được báo cáo xảy ra ở một phần rất nhỏ bệnh nhân. Có một vài báo cáo về các
triệu chứng trên vú (sưng và/hoặc khó chịu) ở người đàn ông dùng ranitidine ;
một vài trường hợp đã được giải quyết khi tiếp tục dùng thuốc. Việc trị liệu có
thể cần gián đoạn để xác định nguyên nhân gây bệnh.
LIỀU LƯỢNG và CÁCH DÙNG
Viên nén :
Người lớn : Liều thông thường : một viên
150 mg hai lần mỗi ngày, uống vào buổi sáng và chiều. Một cách khác, bệnh nhân
loét dạ dày hay tá tràng có thể được điều trị với một liều duy nhất 300 mg trước
khi ngủ. Không cần thiết tính thời gian dùng thuốc liên quan đến bữa ăn. Trong
hầu hết các trường hợp loét tá tràng, loét dạ dày lành tính và loét sau phẫu
thuật, sự làm lành xảy ra trong 4 tuần. Thường việc lành vết loét xuất hiện sau
4 tuần điều trị cho bệnh nhân có vết loét không lành hoàn toàn sau lần trị liệu
khởi đầu. Điều trị duy trì với liều được giảm thành một viên 150 mg trước khi
ngủ được khuyến cáo cho bệnh nhân đáp ứng với điều trị ngắn hạn, đặc biệt người
có tiền sử loét tái phát. Trong việc kiểm soát viêm thực quản hồi lưu, quá trình
điều trị được khuyến cáo là một viên 150 mg hai lần mỗi ngày đến tối đa 8 tuần.
Ở bệnh nhân mắc hội chứng Zollinger-Ellison,
liều bắt đầu là 150 mg ba lần mỗi ngày và có thể tăng nếu cần thiết. Bệnh nhân
bị hội chứng này đã được cho các liều gia tăng lên đến 6 g/ngày và được dung nạp
rất tốt.
Trong việc dự phòng xuất huyết bởi loét do
stress ở bệnh nhân mắc bệnh nặng hay dự phòng xuất huyết tái phát trên bệnh nhân
bị chảy máu từ vết loét dạ dày, việc điều trị với viên nén Zantac 150 mg hai lần
mỗi ngày có thể thay thế cho thuốc tiêm Zantac khi bắt đầu cho ăn bằng miệng
trên những bệnh nhân vẫn còn bị xem là còn trong nguy cơ do các bệnh này.
Trên các bệnh nhân được xem là có nguy cơ bị
hội chứng hít acide trong hội chứng hồi lưu, có thể dùng một liều uống 150 mg 2
giờ trước khi gây mê toàn thân và tốt hơn nữa là thêm một viên 150 mg vào tối
hôm trước. Một cách khác, cũng có thể dùng thuốc tiêm Zantac theo đường tĩnh
mạch và tiêm bắp.
Ở những bệnh nhân sản lúc bắt đầu sinh, có thể
dùng một liều uống 150 mg theo sau liều 150 mg mỗi 6 giờ. Khuyến cáo rằng do
việc làm trống dạ dày và hấp thu thuốc bị trì hoãn lúc sinh, nên dùng thêm trên
mọi bệnh nhân cần gây mê toàn thân cấp cứu một thuốc kháng acide không chuyên
biệt (như sodium citrate) trước khi gây mê. Cần cẩn thận tránh chứng hít acide
do hồi lưu.
Trẻ em : kinh nghiệm với viên nén Zantac
ở trẻ em còn giới hạn và sự sử dụng này không được khảo sát đầu đủ trên các
nghiên cứu lâm sàng. Tuy nhiên, thuốc đã được dùng thành công cho trẻ từ 8-18
tuổi với liều lên đến 150 mg hai lần mỗi ngày.
Thuốc tiêm :
Người lớn : có thể được dùng hoặc bằng
cách tiêm tĩnh mạch chậm dạng 50 mg (trong ít nhất 2 phút), sau khi pha loãng
trong một thể tích 20 ml cho 50 mg, lặp lại với khoảng cách 6-8 giờ ; hoặc tiêm
truyền tĩnh mạch không liên tục với tốc độ 25 mg/giờ trong 2 giờ ; có thể lặp
lại tiêm truyền cách khoảng 6-8 giờ ; hoặc tiêm bắp 50 mg (2 ml) mỗi 6-8 giờ.
Trong dự phòng xuất huyết bởi loét do stress ở
bệnh nhân mắc bệnh trầm trọng hay dự phòng xuất huyết tái phát ở bệnh nhân chảy
máu từ sự loét dạ dày, có thể tiếp tục tiêm thuốc cho đến khi bắt đầu cho ăn
bằng đường miệng. Các bệnh nhân được xem như còn trong nguy cơ có thể được điều
trị với viên nén Zantac 150 mg hai lần mỗi ngày.
Ở bệnh nhân được xem như còn trong nguy cơ phát
triển hít acide trong hội chứng hồi lưu, có thể cho thuốc tiêm Zantac 50 mg tiêm
bắp hay tiêm tĩnh mạch chậm 45-60 phút trước khi gây mê toàn thân.
Trẻ em : sự sử dụng thuốc tiêm Zantac ở
trẻ em chưa được khảo sát.
QUÁ LIỀU