Zidovudine là một tác nhân kháng virus có tác
động mạnh in vitro với retrovirus bao gồm virus gây suy giảm miễn dịch ở người
(HIV).
Zidovudine được phosphoryl hóa trên cả tế bào
bị nhiễm hay không bị nhiễm thành dẫn xuất monophosphate (MP) do men thymidine
kinase của tế bào. Sự phosphoryl hóa sau đó của zidovudine-MP thành dẫn xuất
diphosphate và sau đó là triphosphate được xúc tác bởi men thymidine kinase của
tế bào và các kinase không đặc hiệu lần lượt. Zidovudine-TP tác động như một
chất ức chế và một chất nền cho men reverse transcriptase tế bào. Sự thành lập
ADN tiền virus bị ngưng trệ do sự gắn kết của zidovudine-TP vào trong chuỗi và
đưa đến sự kết thúc chuỗi sau đó.
Sự cạnh tranh bởi zidovudine-TP với men reverse
transcriptase HIV vào khoảng 100 lần lớn hơn ADN polymerase alpha của tế bào.
Vi khuẩn học : mối liên quan giữa tính nhạy cảm
in vitro của HIV với zidovudine và đáp ứng lâm sàng với trị liệu vẫn còn đang
được khảo sát. In vitro, các thử nghiệm nhạy cảm chưa được chuẩn hóa và do đó
các kết quả có thể thay đổi tùy theo các yếu tố về phương pháp.
Những số liệu in vitro trong sự phát triển đề
kháng với zidovudine còn giới hạn. Sự giảm tính nhạy cảm in vitro với zidovudine
đã được báo cáo cho các mẫu cô lập HIV từ những bệnh nhân được điều trị kéo dài
với Retrovir. Các thông tin nhận được chỉ ra rằng, đối với bệnh nhiễm HIV trong
giai đoạn sớm, tỷ lệ và mức độ giảm tính nhạy cảm in vitro ít hơn đáng kể hơn ở
giai đoạn tiến triển bệnh.
DƯỢC ĐỘNG HỌC
Zidovudine được hấp thu tốt qua ruột và với tất
cả các liều lượng được nghiên cứu, sinh khả dụng là 60-70%. Trong một nghiên cứu
ở pha I, nồng độ tối đa (Css, max) và tối thiểu (Css, min ) trung bình ở trạng
thái ổn định trong huyết tương khi uống zidovudine (dạng dung dịch) với các liều
5 mg/kg mỗi 4 giờ tương ứng là 7,1 và 0,4 mmol
(hay 1,9 và 0,1
mg/ml). Trong
một nghiên cứu sự tương đương sinh học, nồng độ Css, max và Css, min sau khi
uống viên nang Retrovir mỗi 4 giờ và liều thông thường đến 200 mg tương ứng là
4,5 mg
(hay 1-2 mg/ml)
và 0,4 mmol
(hay 0,1 mg/ml).
Chất 5'-glucuronide của zidovudine là chất
chuyển hóa chính trong cả huyết tương và nước tiểu và chiếm khoảng 50-80% liều
lượng được đào thải qua thận. Không quan sát được các chất chuyển hóa khác.
Các số liệu trên dược động học của zidovudine
trên bệnh nhân suy thận hay suy gan vẫn còn giới hạn (xem Liều lượng). Không có
số liệu về dược động học của zidovudine ở người già.
Dược động học ở trẻ em : ở trẻ trên 5 tuổi,
dược động học của thuốc cũng giống như trên người lớn.
Zidovudine được hấp thu tốt qua ruột và với mọi
liều lượng được nghiên cứu, sinh khả dụng của thuốc vào khoảng 60-74% với mức độ
trung bình là 65%. Nồng độ Css, max là 4,45
mmol (1,19
mg/ml)
sau một liều 120 mg zidovudine (dạng dung dịch)/m2 diện tích bề mặt
cơ thể và 7,7 mmol
(2,06 mg/ml)
với liều 180 mg/m2 diện tích cơ thể.
Phân bố : ở người lớn, tỷ lệ nồng độ zidovudine
trong dịch não tủy/huyết tương 2-4 giờ sau khi dùng thuốc được tìm thấy ở vào
khoảng 0,5. Các số liệu còn hạn chế cho thấy rằng zidovudine đi qua nhau thai và
được tìm thấy trong dịch ối và máu của thai nhi. Zidovudine cũng đã được tìm
thấy trong tinh dịch.
Ở trẻ em, tỷ lệ trung bình nồng độ zidovudine
trong dịch não tủy/huyết tương nằm trong khoảng 0,52-0,85, như đã được xác định
0,5-4 giờ khi điều trị với thuốc dùng đường uống.
Sự gắn kết với protéine huyết tương tương đối
thấp (43-38%) và các tương tác thuốc liên quan đến sự thay thế ở vị trí gắn kết
không dự kiến trước được.
Tương đương sinh học : dung dịch uống Retrovir
cho thấy có tương đương sinh học với viên nang Retrovir xét tương ứng với vùng
diện tích dưới đường cong nồng độ zidovudine trong huyết tương-thời gian (AUC).
Sự hấp thụ Retrovir sau khi uống thuốc dạng dung dịch nhanh hơn một chút so với
viên nang, với thời gian trung bình để đạt đến nồng độ tối đa tương ứng là
0,5-0,8 giờ. Giá trị trung bình Css, max với liều trung bình 200 mg là 5,8
mmol
(1,55 mg/ml)
và 4,5 mmol
(1,2 mg/ml)
tương ứng cho dung dịch uống và viên nang. Các số liệu này thu được với xirô
Retrovir US nhưng không thể xem như có thể được áp dụng tương đương cho dung
dịch uống Retrovir.
CHỈ ĐỊNH
Bệnh nhân nên cẩn thận khi dùng đồng thời với
các thuốc khác (xem Tương tác thuốc).
Nên lưu ý bệnh nhân rằng trị liệu với
zidovudine không làm giảm nguy cơ truyền HIV cho người khác do tiếp xúc tình dục
hay nhiễm qua đường máu.
Độc tính trên máu : thiếu máu (thường
xảy ra sau 6 tuần dùng zidovudine nhưng đôi khi sớm hơn), giảm bạch cầu trung
tính (thường xảy ra bất kỳ lúc nào sau 4 tuần trị liệu nhưng đôi khi sớm hơn) và
giảm bạch cầu (thường thứ phát sau giảm bạch cầu trung tính) có thể được dự đoán
có xảy ra thường xuyên trên bệnh nhân mắc HIV tiến triển đang dùng viên nang
Retrovir, và do đó nên kiểm tra cẩn thận các thông số huyết học. Khuyến cáo nên
thực hiện các thử nghiệm ít nhất mỗi hai tuần trong 3 tháng đầu trị liệu và ít
nhất mỗi tháng sau đó.
Nên đặc biệt cẩn thận đối với bệnh nhân đã có
trước đó dấu hiệu suy tủy (như hémoglobine < 9 g/dl hay lượng bạch cầu trung
tính < 1,0 x 109/l). Việc dùng liều hàng ngày thấp hơn lúc bắt đầu
quá trình trị liệu có thể thích hợp hơn cho những bệnh nhân này.
Ở những bệnh nhân mắc HIV trong giai đoạn sớm
(lúc này nói chung dự trữ tủy xương còn tốt), độc tính huyết học ít xảy ra
thường xuyên hơn. Tùy theo tình trạng tổng thể của bệnh nhân, có thể ít thực
hiện các xét nghiệm máu hơn, nghĩa là mỗi 1-3 tháng. Sự giảm mức hémoglobine
dưới 25% mức độ trung bình và số lượng bạch cầu trung tính thấp hơn 50% trung
bình có thể đòi hỏi phải kiểm tra thường xuyên hơn.
Nếu xuất hiện chứng thiếu máu trầm trọng hay
suy tủy, nên điều chỉnh liều (xem Liều lượng và Cách dùng). Các bất thường này
thường nhanh chóng hồi phục khi ngưng thuốc. Trên bệnh nhân thiếu máu đáng kể,
đôi khi cũng cần truyền máu sau khi đã điều chỉnh liều.
Tính gây đột biến : không có bằng chứng
gây đột biến nào được quan sát thấy trong xét nghiệm Ames. Tuy nhiên, zidovudine
cũng có tính gây đột biến yếu trên thử nghiệm tế bào u bạch huyết chuột và cho
kết quả dương tính trong một thử nghiệm chuyển đổi tế bào in vitro. Tác động gây
tháo xoắn quan sát được trong một nghiên cứu in vitro trên lympho bào người và
trên các nghiên cứu in vivo với liều uống lặp đi lặp lại ở chuột lớn và chuột
nhắt. Một nghiên cứu về sự phát sinh tế bào in vivo ở chuột lớn không cho thấy
có tác hại lên nhiễm sắc thể. Ý nghĩa lâm sàng của những khám phá này không được
rõ ràng.
Tính gây ung thư : zidovudine đã được
cho uống với 3 mức độ liều cho những nhóm chuột lớn và chuột nhắt riêng biệt (60
con cái và 60 con đực cho mỗi nhóm). Các liều khởi đầu riêng rẽ là 30, 60 và 120
mg/kg/ngày và 80, 220 và 600 mg/kg/ngày tương ứng cho chuột nhắt và chuột lớn.
Các liều ở chuột nhắt được giảm thành 20, 30 và 40 mg/kg/ngày sau ngày thứ 90 do
chứng thiếu máu do điều trị, trong khi ở chuột lớn chỉ có liều cao được giảm
(thành 450 và sau đó là 300 mg/kg/ngày tương ứng với vào ngày thứ 91 và 279).
Ở chuột nhắt, 7 khối u âm đạo (5 carcinome tế
bào có vẩy và 1 polyp có vẩy) xuất hiện chậm (sau 19 tháng) với liều cao nhất.
Một u nhú tế bào có vẩy xuất hiện chậm xảy ra ở âm đạo trên một thú vật dùng
liều trung bình. Không có khối u âm đạo nào được tìm thấy với liều thấp nhất.
Ở chuột lớn, 2 carcinome tế bào có vẩy ở âm đạo
xuất hiện chậm (sau 20 tháng) ở thú vật được cho dùng liều cao nhất. Không có
khối u âm đạo xuất hiện với liều trung bình hay liều thấp ở chuột lớn.
Không có khối u do thuốc khác được quan sát
thấy trên cả hai loại giới tính của hai loại thú vật.
Giá trị ước đoán của các nghiên cứu về tính gây
ung thư trên loài gậm nhấm đối với loài người không chắc chắn và do đó, ý nghĩa
lâm sàng của những khám phá này không rõ ràng.
LÚC CÓ THAI và LÚC NUÔI CON
BÚ
Tính gây quái thai : các nghiên cứu trên
chuột và thỏ có thai được cho uống zidovudine với liều tương ứng lên đến 450 và
500 mg/kg/ngày trong thời kỳ chủ yếu tạo ra cơ quan cho thấy không có bằng chứng
của sinh quái thai. Tuy nhiên, đã có một sự gia tăng đáng kể về mặt thống kê ở
sự tiêu tan của phôi ở chuột được cho dùng 150-450 mg/kg/ngày và thỏ được cho
liều 500 mg/kg/ngày.
Khả năng sinh sản : zidovudine không làm
suy yếu khả năng sinh sản ở chuột lớn đực và cái được cho uống liều lên đến 450
mg/kg/ngày. Không biết được rằng zidovudine có gây ảnh hưởng lên khả năng sinh
sản ở người hay có thể gây tác hại lên thai nhi khi dùng cho phụ nữ có thai. Sự
sử dụng zidovudine trong thai kỳ nên được xem xét cân nhắc chỉ khi được chỉ định
rõ ràng.
Các số liệu giới hạn cho thấy rằng zidovudine
được tiết qua sữa ở thú vật. Không biết được rằng ở người zidovudine có tiết qua
sữa hay không. Do thuốc có thể đi qua sữa mẹ và có thể gây nên những độc tính
trầm trọng cho trẻ được cho bú, khuyến cáo rằng nguời mẹ đang dùng viên nang
Retrovir không nuôi con bú.
TƯƠNG TÁC THUỐC
Do các kinh nghiệm về tương tác thuốc với
zidovudine có giới hạn, nên cẩn thận khi phối hợp phác đồ dùng các thuốc khác
với viên nang Retrovir. Các tương tác thuốc liệt kê dưới đây không nên xem như
là hoàn toàn thấu đáo mà chỉ nên coi như là đại diện của nhóm thuốc cần lưu ý
cẩn thận khi dùng.
Nồng độ phénytoine thấp trong máu đã được báo
cáo ở một vài bệnh nhân dùng zidovudine, trong khi đó 1 bệnh nhân đã được ghi
nhận có nồng độ cao trong máu. Các quan sát này đề nghị ra rằng nên cẩn thận
kiểm tra nồng độ phénytoine trong máu khi bệnh nhân dùng cả hai thứ thuốc.
Paracétamol dùng trong quá trình điều trị với
Retrovir trong một thử nghiệm có kiểm soát placebo có thể gây gia tăng tỷ lệ xảy
ra giảm bạch cầu trung tính, đặc biệt trong quá trình điều trị kéo dài. Tuy
nhiên, các số liệu dược động hiện có cho thấy rằng paracétamol không làm tăng
nồng độ trong huyết tương của zidovudine hay chất chuyển hóa glucuronide của nó.
Các thuốc khác (như aspirine, codéine,
morphine, indométacine, ketoprofène, naproxène, oxazépam, lorazépam, cimétidine,
clofibrate, dapsone và isoprinosine) có thể làm thay đổi chuyển hóa của
zidovudine bằng cách ức chế hoàn toàn sự glucuronide hóa hay trực tiếp ức chế
chuyển hóa vi thể gan. Nên cẩn thận suy xét khả năng tương tác thuốc trước khi
dùng các thuốc này kết hợp với viên nang Retrovir, đặc biệt khi dùng thuốc kéo
dài.
Trị liệu đồng thời với các thuốc có khả năng
làm suy tủy hay suy thận mạnh (như dapsone, pentamidine dùng toàn thân,
pyriméthamine, amphotéricine, flucitosine, ganciclovir, interféron, vincristine,
vinblastine và doxorubicine) cũng có thể làm gia tăng nguy cơ gây độc tính của
viên nang Retrovir. Nếu cần thiết dùng đồng thời với một trong những thuốc trên,
nên cẩn thận kiểm tra thêm các thông số về chức năng thận và huyết học, và nếu
cần, nên giảm liều của một hoặc cả hai tác nhân.
Các đồng đẳng nucléoside, ribavirine, đối kháng
lại in vitro tác động kháng virus của zidovudine và do đó, nên tránh sử dụng
đồng thời các thuốc này.
Do một vài bệnh nhân dùng zidovudine có thể
tiếp tục bị nhiễm khuẩn cơ hội, có thể phải xem xét việc dùng đồng thời liệu
pháp kháng khuẩn dự phòng. Biện pháp dự phòng này bao gồm co-trimoxazole,
pentamidine dạng khí dung, pyriméthamine và acyclovir. Các số liệu còn giới hạn
từ các thử nghiệm lâm sàng không cho thấy nguy cơ gia tăng đáng kể độc tính với
những thuốc này. Các số liệu giới hạn đề nghị rằng probénécide làm gia tăng thời
gian bán hủy trung bình và diện tích dưới đường cong nồng độ trong huyết tương
của zidovudine, bằng cách giảm sự glucuronide hóa. Sự đào thải qua thận của các
glucuronide (và có thể chính bản thân zidovudine) bị giảm khi có sự hiện diện
của probénécide.
TÁC DỤNG NGOẠI Ý
Người lớn : tác dụng ngoại ý trầm trọng nhất
bao gồm thiếu máu (có thể cần phải truyền máu), giảm bạch cầu trung tính và giảm
bạch cầu. Các chứng này xảy ra thường xuyên hơn ở liều cao (1200-1500 mg/ngày)
và ở bệnh nhân mắc HIV tiến triển (đặc biệt khi có dự trữ tủy suy giảm trước khi
điều trị), và đặc biệt cho bệnh nhân có số lượng tế bào T4 (T-helper) dưới
100/mm3. Có thể cần thiết phải giảm liều hay ngưng trị liệu (xem Liều
lượng và Cách dùng). Tỷ lệ xuất hiện giảm bạch cầu trung tính cũng gia tăng ở
bệnh nhân có số lượng bạch cầu trung tính, hémoglobine và nồng độ vitamine B12
thấp lúc bắt đầu trị liệu với zidovudine và trên những người dùng đồng thời
paracétamol (xem Tương tác thuốc).
Tác dụng ngoại ý thường gặp khác được báo cáo
trong các thử nghiệm lâm sàng có kiểm soát placébo rộng rãi bao gồm buồn nôn,
nôn mửa, chán ăn, đau bụng, nhức đầu, nổi ban, sốt, đau cơ, dị cảm, mất ngủ, khó
ở, suy nhược và khó tiêu. Ngoại trừ chứng buồn nôn được gặp thường hơn nhiều
trong mọi nghiên cứu ở bệnh nhân dùng viên nang Retrovir, tác dụng phụ khác
không được báo cáo xuất hiện thường xuyên hơn ở bệnh nhân dùng placebo. Nhức
đầu, đau cơ và mất ngủ trầm trọng thường gặp hơn ở bệnh nhân mắc HIV tiến triển
được điều trị với Retrovir, trong khi chứng nôn mửa, chán ăn, khó ở và suy nhược
thường thấy hơn ở bệnh nhân nhiễm HIV ở giai đoạn sớm được điều trị với
Retrovir.
Tác dụng ngoại ý khác được ghi nhận bao gồm
buồn ngủ, tiêu chảy, nhức đầu, đổ mồ hôi, khó thở, trướng bụng, thay đổi vị
giác, đau ngực, mất khả năng suy luận, lo lắng, tiểu thường xuyên, trầm cảm, đau
chung chung, ớn lạnh, ho, mày đay, ngứa và hội chứng dạng sốt. Tỷ lệ của các tác
dụng này và các tác dụng ngoại ý khác ít gặp hơn thì tương tự trên cả hai nhóm
bệnh nhân được điều trị với Retrovir và placebo.
Các số liệu thu được từ nghiên cứu mở và có
kiểm tra bằng placebo cho thấy rằng tỷ lệ của chứng buồn nôn và các tác dụng
ngoại ý thường gặp trên lâm sàng khác được báo cáo đều nhất quán giảm theo thời
gian trong vài tuần đầu trị liệu với Retrovir.
Các tai biến sau được báo cáo xuất hiện trên
bệnh nhân được điều trị với Retrovir trong một nghiên cứu mở. Các chứng này cũng
có thể xảy ra như một phần của tiến trình bệnh. Do đó, có thể gặp khó khăn khi
khảo sát mối liên quan giữa các tác dụng này và sự sử dụng Retrovir, đặc biệt
trong trường hợp có biến chứng đặc trưng cho nhiễm HIV tiến triển : co giật và
các tai biến trên não khác, bệnh cơ, nhiễm sắc tố móng, giảm toàn thể huyết cầu
với sự giảm sản tủy và giảm tiểu cầu đơn độc và rối loạn trên gan như to gan,
các thay đổi về mỡ và gia tăng men gan và bilirubine trong máu.
Trẻ em : do không có các nghiên cứu có kiểm
soát placebo, chỉ có những số liệu giới hạn từ nghiên cứu mở ở trẻ em bị nhiễm
HIV có biểu hiện triệu chứng.
Giống như ở người lớn, tác dụng ngoại ý trầm
trọng nhất bao gồm thiếu máu (có thể cần đến sự truyền máu), giảm bạch cầu trung
tính và giảm bạch cầu. Việc điều chỉnh liều lượng có thể rất cần thiết (xem Liều
lượng và Cách dùng). Thông tin thu được về các tác dụng ngoại ý khác ở trẻ em
không mâu thuẫn với sự xảy ra các tác dụng ngoại ý do zidovudine ở người lớn.
LIỀU LƯỢNG và CÁCH DÙNG
Người lớn : liều khởi đầu 200 mg zidovudine mỗi
4 giờ (1200 mg/ngày) nói chung được khuyến cáo cho bệnh nhân nặng 70 kg.
Một khoảng liều rộng từ 500 và 1500 mg/ngày đã
được dùng. Phác đồ liều lượng tối ưu (liều hàng ngày và thời gian dùng thuốc)
vẫn còn được xác định và thay đổi theo từng cá nhân. Trong thực tế, nhiều bệnh
nhân có thể được duy trì thoả đáng với liều 1000 mg/ngày chia làm 4 hay 5 lần.
Trong các trường hợp cá biệt, bác sĩ có thể cần chọn một liều hàng ngày thấp
hơn, tùy theo giai đoạn bệnh và các yếu tố có liên quan (như dự trữ tủy hay thể
trọng bệnh nhân). Không biết được tính hữu hiệu của liều thấp hơn trong việc
điều trị hay phòng ngừa các suy thoái chức năng thần kinh đi kèm với SIDA và
tính chất ác tính. Tính hữu hiệu của việc dùng liều cách xa hơn (trong khoảng
thời gian lâu hơn 6 giờ) vẫn còn chưa được xác định.
Trẻ em : ở trẻ em trên 3 tháng tuổi, liều khởi
đầu khuyến cáo là 180 mg/m2 diện tích bề mặt cơ thể mỗi 6 giờ (720
mg/kg/ngày). Liều tối đa không nên vượt quá 200 mg mỗi 6 giờ.
Phác đồ liều lượng tối ưu vẫn còn được xác định
và có thể thay đổi theo từng người. Một khoảng liều rộng từ 120 và 180 mg/m2
diện tích bề mặt cơ thể mỗi 6 giờ (trong khoảng 480-720 mg/m2/ngày),
đã được dùng. Không biết được tính hữu hiệu của các liều lượng thấp trong việc
điều trị và dự phòng suy thoái chức năng thần kinh đi kèm với HIV và tính chất
ác tính. Tính hữu hiệu của việc dùng liều cách khoảng xa hơn trên trẻ em vẫn còn
được xác định.
Điều chỉnh liều đối với bệnh nhân có độc tính
trên máu : có thể cần thiết phải điều chỉnh liều cho bệnh nhân có độc tính trên
máu. Điều này hầu như thường hơn ở bệnh nhân có dự trữ tủy kém trước khi điều
trị, đặc biệt trên bệnh nhân mắc HIV trong giai đoạn tiến triển. Nếu nồng độ
hémoglobine giảm xuống trong khoảng giữa 7,5 g/dl và 9 g/dl hay số lượng bạch
cầu trung tính giảm xuống giữa 0,75 x 109/l và 1 x 109/l,
liều hàng ngày có thể giảm cho đến khi có bằng chứng của sự hồi phục tủy, nói
cách khác, sự hồi phục có thể được tăng cường bởi một thời gian ngưng thuốc ngắn
hạn. Nếu cần phải xem xét giảm liều, có thể giảm một nửa liều hàng ngày và sau
đó tăng thêm dần, tùy theo dung nạp thuốc của bệnh nhân, cho đến liều ban đầu.
Điều trị với Retrovir nên gián đoạn nếu mức
hémoglobine xuống thấp dưới 7,5 g/dl hay số lượng bạch cầu trung tính dưới 0,75
x 109/l. Sự hồi phục tủy thường được quan sát thấy xảy ra trong vòng
2 tuần sau thời gian dùng zidovudine với một liều đã được giảm bớt có thể được
tái áp dụng. Sau 2-4 tuần sau, có thể dần dần gia tăng liều, tùy theo dung nạp
thuốc của bệnh nhân, cho đến liều ban đầu.
Liều lượng cho người già : hiện nay không có
sẵn số liệu đặc hiệu ; tuy nhiên, nên áp dụng các biện pháp thận trọng thông
thường cho người già.
Liều lượng trong trường hợp suy thận : các số
liệu còn giới hạn ở bệnh nhân suy thận không đề ra nhu cầu đặc biệt về điều
chỉnh liều khởi đầu do nồng độ zidovudine không gia tăng một cách đáng kể. Tuy
nhiên, sự tích tụ của các chất chuyển hóa glucuronide có thể xảy ra trong suy
thận, mặc dù không biết được tác động của sự tích tụ này. Việc kiểm tra nồng độ
zidovudine trong huyết tương (và chất chuyển hóa glucuronide của nó), kết hợp
với kiểm tra các thông số huyết học, có thể cho thấy nhu cầu điều chỉnh liều
lượng sau đó. Làm thẩm phân máu cho thấy chỉ cho một tác dụng giới hạn trong
việc đào thải zidovudine nhưng làm tăng cường sự đào thải chất chuyển hóa
glucuronide của nó.
Liều lượng trong trường hợp suy gan : các số
liệu giới hạn trên bệnh nhân xơ gan cho thấy rằng sự tích tụ zidovudine có thể
xảy ra trên bệnh nhân suy gan vì giảm sự glucuronide hóa. Có thể cần thiết phải
điều chỉnh liều nhưng hiện tại không thể cho các khuyến cáo chính xác. Nếu không
thể thực hiện được kiểm tra nồng độ zidovudine trong huyết tương, bác sĩ sẽ phải
chú ý đặc biệt đối với những dấu hiệu không dung nạp và gia tăng khoảng cách
giữa các liều cho thích hợp.
QUÁ LIỀU
Triệu chứng : các số liệu hiện nay còn
giới hạn về tác động của việc uống quá liều cấp trên cả người lớn và trẻ em.
Không có trường hợp tử vong nào xảy ra và tất cả bệnh nhân đều hồi phục. Nồng độ
cao nhất trong máu của zidovudine được ghi nhận là 185
mmol (49,4
mg/ml).
Không nhận thấy được các triệu chứng hay dấu hiệu đặc hiệu xảy ra cùng với sự
quá liều.
Các liều cao lên đến 1250 mg Retrovir uống mỗi
4 giờ trong vòng 4 tuần đã được cho 2 bệnh nhân HIV tiến triển. Một người đã bị
thiếu máu và giảm bạch cầu trong khi người kia không bị ảnh hưởng nguy hại nào.
Các liều cao 7,5 mg/kg theo đường tiêm tuyền
mỗi 4 giờ trong vòng 2 tuần đã được dùng cho 5 bệnh nhân. Một người trong số đó
bị phản ứng lo lắng trong khi bốn người còn lại không bị ảnh hưởng nguy hại nào.
Điều trị : nên theo dõi bệnh nhân kỹ
càng về các dấu hiệu độc tính (xem Tác dụng ngoại ý) và áp dụng các biện pháp hỗ
trợ cần thiết. Làm thẩm phân máu cho thấy chỉ cho một tác dụng giới hạn trong
việc đào thải zidovudine nhưng có thể làm tăng cường sự đào thải chất chuyển hóa
glucuronide của nó.