Dùng canxi đường tiêm cho phép điều chỉnh nhanh
tình trạng hạ canxi huyết và các triệu chứng lâm sàng bao gồm : dị cảm, co thắt
thanh quản, vọp bẻ, tăng kích thích thần kinh cơ dẫn đến co giật.
Trong các tình trạng thiếu canxi mãn tính do
rối loạn hấp thu ở ruột, dùng liệu pháp canxi đường tiêm sẽ ổn định lại các
thông số về canxi và duy trì chúng ở tình trạng cân bằng.
Tăng nồng độ canxi sẽ làm giảm tính thấm thành
mao mạch, do đó làm giảm quá trình xuất tiết, viêm và dị ứng.
Nhờ được dung nạp tốt ở mô, calcium glubionate
không chỉ được tiêm bằng đường tĩnh mạch, mà còn có thể được tiêm bắp sâu (tuy
nhiên không nên tiêm bắp ở trẻ em).
DƯỢC ĐỘNG HỌC
- Co cứng cơ do hạ canxi huyết (bệnh tétanie)
và các rối loạn thần kinh cơ liên quan.
- Tình trạng thiếu canxi mãn tính, còi xương,
nhuyễn xương và loãng xương ở những bệnh nhân mà việc sử dụng canxi dạng uống
không đạt hiệu quả tốt.
- Điều trị hỗ trợ trong các trường hợp xuất
tiết da (ví dụ : mề đay cấp, chàm cấp).
- Ngộ độc kim loại chì (điều trị đau bụng do
ngộ độc chì), ngộ độc fluoride.
- Hỗ trợ điều trị chứng tăng kali huyết nặng.
CHỐNG CHỈ ĐỊNH
- Quá mẫn cảm với chất thuốc.
- Tăng canxi huyết và tăng canxi niệu nặng.
- Suy thận nặng, galactose huyết.
- Tuyệt đối không chỉ định canxi dạng tiêm cho
bệnh nhân đang được điều trị bằng digitale hoặc adrénaline.
THẬN TRỌNG LÚC DÙNG
- Khi dùng liệu pháp canxi liều cao cần phải
kiểm tra chặt chẽ canxi huyết và canxi niệu, nhất là ở trẻ em và bệnh nhân đang
sử dụng vitamin D. Ngưng điều trị ngay khi canxi huyết vượt quá 2,625 mmol/l
(105 đến 110 mg/l) và khi canxi niệu vượt quá 0,125 mmol/kg (5 mg/kg) trong 24
giờ.
- Nên theo dõi điện tâm đồ khi truyền canxi
đường tĩnh mạch để điều trị tăng kali huyết nặng.
- Người ta đã phát hiện rằng trong dung dịch
tiêm canxi (kể cả Calcium-Sandoz) có chứa một lượng nhỏ aluminium (tối đa 10
mg/l). Do đó, tránh dùng lâu dài canxi đường tiêm cho trẻ sơ sinh, trẻ nhũ nhi
và bệnh nhân bị suy thận nặng, do dùng lâu dài có thể gây tích tụ aluminium ở hệ
xương, các rối loạn ở hệ thần kinh, máu và xương.
LÚC CÓ THAI và LÚC NUÔI CON
BÚ
Nôn, mửa, bốc hỏa, vã mồ hôi, hạ huyết áp, loạn
nhịp và trụy mạch, có thể xảy ra khi tiêm tĩnh mạch quá nhanh.
Khi tiêm tĩnh mạch chệch hoặc tiêm bắp nông, dị
ứng tại vùng tiêm có thể dẫn đến tróc vảy hoặc hoại tử da. Hiếm khi xảy ra tình
trạng canxi hóa mô mềm tại chỗ.
LIỀU LƯỢNG và CÁCH DÙNG
Liều lượng :
Liều thông thường :
Người lớn : 10 ml, 1 đến 3 lần/ngày,
tĩnh mạch hoặc tiêm bắp sâu trong trường hợp đặc biệt.
Trẻ em : 5-10 ml, 1 lần/ngày, tiêm tĩnh
mạch.
Trường hợp hạ canxi huyết nặng ở người lớn hoặc
trẻ em, dùng canxi bằng đường truyền tĩnh mạch, điều chỉnh liều theo canxi huyết
và canxi niệu.
Trường hợp hạ canxi huyết nặng ở trẻ còn bú
hoặc trẻ nhũ nhi, liều thông thường là 40-80 mg canxi nguyên tố/kg/24 giờ
(khoảng 4-9 ml) bằng cách truyền tĩnh mạch, trong tối đa 3 ngày. Việc điều trị
sau đó được chuyển sang dạng uống.
Nếu đúng qui định, canxi dạng tiêm có thể kết
hợp với vitamin D.
Cách dùng :
Tiêm tĩnh mạch chậm (3 phút cho 10 ml) ; theo
dõi nhịp tim. Ở người lớn, có thể tiêm bắp sâu ở mông trong một số trường hợp
đặc biệt. Không tiêm bắp cho trẻ em. Tuyệt đối tránh tiêm dưới da
Calcium-Sandoz.
QUÁ LIỀU
Các triệu chứng bao gồm các triệu chứng của
tăng canxi huyết : chán ăn, nôn, mửa, táo bón, đau bụng, yếu cơ, đa niệu, khát,
ngủ gật ; trường hợp nặng : hôn mê, loạn nhịp, ngừng tim.
Việc điều trị nhắm vào điều chỉnh tăng canxi
huyết : có thể dùng sodium phosphate dạng uống, hoặc truyền tĩnh mạch trong
trường hợp nặng.