Cataflam là một thuốc kháng viêm không stéroide
có đặc tính giảm đau, kháng viêm và hạ sốt mạnh.
Cataflam có tác động khởi phát nhanh chóng làm
cho thuốc đặc biệt thích hợp trong việc điều trị các chứng đau và viêm cấp tính.
Tác dụng ức chế sinh tổng hợp prostaglandine đã
được kết luận qua các thí nghiệm, được xem như là cơ chế tác dụng cơ bản của
thuốc. Prostaglandine giữ vai trò rất lớn trong gây viêm, đau và sốt.
In vitro, diclofénac không làm giảm sinh tổng
hợp protéoglycane trong sụn ở các nồng độ tương đương với nồng độ được ghi nhận
ở người.
Cataflam được chứng minh có tác động giảm đau
mạnh trong những cơn đau từ trung bình cho đến trầm trọng. Khi có viêm, ví dụ
như viêm do chấn thương hay do can thiệp phẫu thuật, thuốc nhanh chóng làm giảm
chứng đau tự nhiên và đau do vận động, và giảm phù nề do viêm và phù nề ở vết
thương.
Các nghiên cứu lâm sàng cũng cho thấy với đau
bụng kinh tiên phát, hoạt chất có khả năng làm giảm đau và giảm mức độ xuất
huyết.
Trong cơn migrain, Cataflam đã chứng minh làm
giảm nhức đầu và cải thiện các triệu chứng buồn nôn, nôn đi kèm.
DƯỢC ĐỘNG HỌC
Hấp thu :
Diclofénac potassium được hấp thu nhanh chóng
và hoàn toàn sau khi uống. Sự hấp thu bắt đầu ngay sau khi uống và lượng hấp thu
tương tự như lượng thuốc được hấp thu từ cùng một liều dưới dạng viên nén
diclofénac sodium không tan trong dạ dày. Nồng độ tối đa trung bình trong huyết
tương là 3,8 mmol/l
đạt được sau 20-60 phút sau khi uống một viên thuốc 50 mg. Uống thuốc khi ăn
không gây ảnh hưởng đến lượng diclofénac được hấp thu, mặc dù tác dụng khởi đầu
và tốc độ hấp thu có thể kéo dài một ít.
Lượng thuốc được hấp thu có liên quan tuyến
tính với liều sử dụng.
Do khoảng một nửa diclofénac bị chuyển hóa
trong lần qua gan đầu tiên, do đó diện tích dưới đường cong nồng độ khi dùng
dạng uống hoặc đường trực tràng chỉ bằng khoảng một nửa so với đường tiêm với
liều tương tự.
Dược động của thuốc không thay đổi sau khi dùng
nhiều liều liên tiếp. Thuốc không bị tích tụ nếu được dùng đúng khoảng cách liều
được khuyến cáo.
Phân phối :
Lượng diclofénac liên kết với protéine huyết
tương là 99,7%, chủ yếu với albumine (99,4%). Thể tích phân phối trong khoảng
0,12-0,17 l/kg. Diclofénac đi vào trong hoạt dịch, nơi có nồng độ tối đa đo được
từ 2 đến 4 giờ sau khi đạt được nồng độ tối đa trong huyết tương. Thời gian bán
hủy đào thải từ hoạt dịch là 3-6 giờ. Hai giờ sau khi đạt đến nồng độ tối đa
trong huyết tương, nồng độ hoạt chất trong hoạt dịch đã cao hơn nồng độ trong
huyết tương, và nồng độ này được duy trì cao hơn so với trong huyết tương cho
đến 12 giờ.
Chuyển hóa sinh học :
Chuyển hóa sinh học của diclofénac một phần do
sự liên hợp của bản thân phân tử nhưng phần lớn bởi sự hydroxyl hóa và méthoxyl
hóa một gốc hoặc nhiều gốc, tạo nên một vài chất chuyển hóa phenol (3'-hydroxy-,
4'-hydroxy-, 5-hydroxy-, 4',5-dihydroxy-, và 3'-hydroxy-4'-méthoxy-diclofénac),
hầu hết những chất chuyển hóa này được chuyển thành dạng liên hợp glucuronique.
Hai trong số những chất chuyển hóa này có hoạt tính sinh học, nhưng với mức độ
yếu hơn nhiều so với diclofénac.
Đào thải :
Toàn bộ thanh thải toàn thân của diclofenac từ
huyết tương là 263 +/- 56 ml/phút (giá trị trung bình +/- SD). Thời gian bán hủy
cuối cùng trong huyết tương là 1-2 giờ. Bốn trong số các chất chuyển hóa, trong
đó có hai chất chuyển hóa có hoạt tính, cũng có thời gian bán hủy ngắn trong
huyết tương từ 1-3 giờ. Một chất chuyển hóa là 3'-hydroxy-4'-méthoxy-diclofénac,
có thời gian bán hủy trong huyết tương dài hơn. Tuy nhiên, chất chuyển hóa này
hầu như không có tác dụng.
Khoảng 60% liều dùng được đảo thải qua nước
tiểu dưới dạng liên hợp glucuronique của hoạt chất và của chất chuyển hóa (hầu
hết những chất này cũng được chuyển sang dạng liên hợp glucuronique). Dưới 1%
được đào thải dưới dạng không đổi. Phần còn lại được đào thải đưới dạng chất
chuyển hóa theo mật qua phân.
Tình trạng bệnh nhân :
Không ghi nhận có sự khác biệt theo tuổi tác
trong sự hấp thu, chuyển hóa hay đào thải thuốc.
Ở bệnh nhân suy thận, khi dùng liều duy nhất
theo phác đồ điều trị thông thường, không ghi nhận có sự tích tụ hoạt chất thuốc
dưới dạng không đổi có thể can thiệp đến dược động của thuốc. Với độ thanh thải
créatinine dưới 10 ml/phút, nồng độ trong huyết tương ở trạng thái bền vững tính
được của chất chuyển hóa hydroxyl cao hơn khoảng 4 lần so với ở người thường.
Tuy nhiên, các chất chuyển hóa được đào thải hoàn toàn qua mật.
Ở bệnh nhân viêm gan mãn tính hay xơ gan không
mất bù, dược động và chuyển hóa của diclofénac cũng giống như ở bệnh nhân không
có bệnh gan.
Dữ liệu tiền lâm sàng :
Diclofénac không ảnh hưởng lên khả năng sinh
sản của súc vật thí nghiệm và cả sự phát triển trước, trong và sau khi sanh ra
của lứa con sau này. Không ghi nhận có tác dụng gây quái thai ở chuột nhắt,
chuột lớn và thỏ. Không thấy có tác dụng gây biến dị trên nhiều thử nghiệm in
vivo và in vitro khác nhau, và không ghi nhận khả năng gây ung thư trong những
nghiên cứu dài hạn ở chuột lớn và chuột nhắt.
CHỈ ĐỊNH
Theo dõi y khoa chặt chẽ ở bệnh nhân có triệu
chứng cho thấy có rối loạn tiêu hóa, hay một bệnh sử gợi đến loét tá tràng hay
dạ dày, bệnh nhân bị viêm loét kết tràng hay bệnh Crohn, và bệnh nhân bị suy
gan.
Như các kháng viêm không stéroide khác, các trị
số của một hay nhiều enzyme ở gan có thể gia tăng. Trong quá trình điều trị kéo
dài với Cataflam, việc theo dõi chức năng gan được áp dụng như một biện pháp đề
phòng. Nếu kết quả thử nghiệm chức năng gan bất thường kéo dài hay xấu đi, nếu
có phát triển những dấu hiệu hay triệu chứng lâm sàng ứng với bệnh gan, hay nếu
những biểu hiện khác xuất hiện (như tăng bạch cầu ưa éosine, nổi ban...) nên
ngưng Cataflam. Chứng viêm gan có thể xuất hiện mà không có triệu chứng báo
trước.
Nên cẩn trọng khi dùng Cataflam ở bệnh nhân có
rối loạn chuyển hóa porphyrine ở gan, vì Cataflam có thể gây bộc phát cơn.
Do tầm quan trọng của prostaglandine trong sự
duy trì sự tưới máu ở thận, nên đặc biệt cẩn trọng khi dùng cho bệnh nhân suy
tim hay suy thận, người già, bệnh nhân đang điều trị với thuốc lợi tiểu và bệnh
nhân thiếu đáng kể thể tích dịch ngoại bào do bất kỳ nguyên do gì, ví dụ như
trước và sau đại phẫu. Theo dõi chức năng thận được khuyến cáo áp dụng như một
biện pháp đề phòng khi dùng Cataflam trong những trường hợp như trên. Sự ngưng
thuốc thường dẫn theo sau đó tình trạng như trước khi trị liệu.
Việc điều trị với Cataflam trong những chỉ định
đã nêu trên thường cho thấy chỉ cần dùng trong một vài ngày. Nhưng nếu sử dụng
ngược với những lời khuyên về cách dùng thuốc, có nghĩa là điều trị dài hạn, nên
đo công thức máu như khi điều trị dài hạn với những kháng viêm không stéroide
khác. Như những kháng viêm không stéroide khác, Cataflam có thể ức chế tạm thời
sự kết tập tiểu cầu. Bệnh nhân có rối loạn đông máu nên được theo dõi cẩn thận.
Trên cơ sở y học cơ bản, nên cẩn thận khi dùng cho người già. Đặc biệt khuyến
cáo rằng nên dùng liều hữu hiệu thấp nhất cho người lớn tuổi hay người nhẹ cân.
Bệnh nhân bị chóng mặt hay những rối loạn trên
thần kinh trung ương như rối loạn thị giác khi dùng thuốc không nên lái xe hay
sử dụng máy móc.
LÚC CÓ THAI và LÚC NUÔI CON
BÚ
(Bao gồm các tương tác thuốc quan sát được khi
dùng các hàm lượng khác và của diclofénac sodium)
- Lithium, digoxine : Cataflam có thể làm tăng
nồng độ trong huyết tương của lithium hay digoxine.
- Thuốc lợi tiểu : như các kháng viêm không
stéroide khác, Cataflam có thể ức chế tác động của thuốc lợi tiểu. Điều trị đồng
thời với thuốc lợi tiểu giữ kali có thể làm tăng nồng độ kali trong huyết thanh,
do đó nên theo dõi khi dùng chung hai loại thuốc này.
- Các kháng viêm không stéroide khác : dùng
phối hợp các kháng viêm không stéroide có thể làm tăng khả năng xảy ra tác dụng
ngoại ý.
- Thuốc chống đông máu : mặc dù những thăm dò
lâm sàng không cho thấy rằng Cataflam tác động lên tính chất chống đông, cũng có
những báo cáo riêng biệt về sự gia tăng nguy cơ xuất huyết ở bệnh nhân dùng đồng
thời Cataflam và thuốc chống đông máu. Do đó, nên theo dõi cẩn thận những bệnh
nhân này.
- Thuốc hạ đường huyết : các nghiên cứu lâm
sàng cho thấy Cataflam có thể được dùng chung với thuốc hạ đường huyết mà không
ảnh hưởng đến tác dụng trên lâm sàng. Tuy nhiên, có những trường hợp riêng biệt
được báo cáo về tác động tăng đường huyết lẫn hạ đường huyết đòi hỏi phải thay
đổi liều lượng của thuốc hạ đường huyết trong quá trình điều trị với Cataflam.
- Méthotrexate : cần cẩn thận nếu thuốc kháng
viêm không stéroide được dùng dưới 24 giờ trước khi hoặc sau khi điều trị với
méthotrexate, do nồng độ trong máu của méthotrexate có thể tăng và do đó tăng
độc tính.
- Cyclosporine : tác động của thuốc kháng viêm
không stéroide lên prostaglandine thận có thể làm tăng độc tính của cyclosporine
trên thận.
- Kháng sinh nhóm quinolone : đã có những báo
cáo riêng lẻ về chứng co giật có thể là do sử dụng đồng thời quinolone và thuốc
kháng viêm không stéroide.
TÁC DỤNG NGOẠI Ý
Bao gồm các tác dụng ngoại ý xảy ra khi dùng
các hàm lượng khác của Cataflam và diclofenac sodium trong điều trị ngắn hạn hay
dài hạn.
(Tần suất ước lượng : thường xuyên > 10% ; đôi
khi > 1-10% ; hiếm > 0,001-1% ; trường hợp riêng biệt < 0,001%).
- Đường tiêu hóa : đôi khi : đau thượng vị, các
rối loạn tiêu hóa khác như buồn nôn, nôn mửa, tiêu chảy, co thắt ruột, khó tiêu,
trướng bụng, chán ăn ; hiếm : xuất huyết tiêu hóa (nôn ra máu, phân đen, tiêu
chảy có máu), loét dạ dày hay ruột có hay không có xuất huyết hay thủng ; trường
hợp riêng biệt : viêm niêm mạc miệng, viêm lưỡi, sang thương thực quản, hẹp ruột
dạng biểu đồ, bệnh ở phần đại tràng như viêm kết tràng xuất huyết không đặc hiệu
và viêm kết tràng có loét tăng nặng hơn hay bệnh Crohn, táo bón, viêm tụy.
- Hệ thần kinh trung ương : đôi khi : nhức đầu,
chóng mặt, choáng váng ; hiếm : buồn ngủ ; trường hợp riêng biệt : rối loạn cảm
giác, bao gồm dị cảm, rối loạn trí nhớ, mất định hướng, mất ngủ, kích thích, co
giật, trầm cảm, bồn chồn, ngủ có ác mộng, run rẩy, phản ứng loạn tâm thần, viêm
màng não vô khuẩn.
- Giác quan : trường hợp riêng biệt : rối loạn
thị giác (nhìn mờ, song thị), giảm thính giác, ù tai, rối loạn vị giác.
- Da : đôi khi : nổi ban hay phát ban da ; hiếm
: nổi mề đay ; trường hợp riêng biệt : nổi ban có mụn nước, eczéma, ban đỏ đa
dạng, hội chứng Stevens- Johnson, hội chứng Lyell (chứng bong biểu bì nhiễm độc
cấp), chứng đỏ da (viêm da tróc vảy), rụng tóc, phản ứng nhạy cảm ánh sáng, ban
xuất huyết, bao gồm ban xuất huyết dị ứng.
- Thận : hiếm : phù nề ; trường hợp riêng biệt
: suy thận cấp, bất thường tiết niệu như tiểu ra máu và protéine niệu, viêm kẽ
thận, hội chứng thận hư, hoại tử nhú thận.
- Gan : đôi khi : tăng aminotransferase huyết
thanh ; hiếm : viêm gan có hay không có vàng da ; trường hợp riêng biệt : viêm
gan kịch phát.
- Máu : trường hợp riêng biệt : giảm tiểu cầu,
giảm bạch cầu, thiếu máu tán huyết, thiếu máu bất sản, mất bạch cầu hạt.
- Quá mẫn : hiếm : phản ứng quá mẫn như hen
suyễn, phản ứng phản vệ hay giống phản vệ toàn thân bao gồm hạ huyết áp ; trường
hợp riêng biệt : viêm mạch, viêm phổi.
- Hệ tim mạch : trường hợp riêng biệt : đánh
trống ngực, đau ngực, cao huyết áp, suy tim sung huyết.
LIỀU LƯỢNG và CÁCH DÙNG
Dùng cho người lớn : liều khởi đầu
khuyến cáo dùng mỗi ngày là 100-150 mg. Trong những trường hợp nhẹ hơn cũng như
cho trẻ em trên 14 tuổi, thường chỉ dùng 75-100 mg/ngày là đủ. Nên chia liều mỗi
ngày thành 2-3 lần dùng.
nĐau
bụng kinh nguyên phát : liều hàng ngày nên điều chỉnh theo từng người và
thường từ 50-150 mg. Nên dùng liều khởi đầu là 50-100 mg và nếu cần có thể tăng
trong một vài trường hợp lên đến 200 mg/ngày. Nên bắt đầu điều trị ngay khi có
xuất hiện triệu chứng đầu tiên và tùy thuộc vào các triệu chứng, tiếp tục thêm
vài ngày nữa.
Nên nuốt viên thuốc với nước, tốt nhất là trước
bữa ăn.
nTrong
cơn migrain : khởi đầu điều trị liều 50 mg khi có tiền triệu đầu tiên. Trong
trường hợp sau 2 giờ vẫn không có dấu hiệu giảm đau, có thể uống thêm 1 liều 50
mg. Nếu cần thiết có thể dùng 50 mg mỗi 4-6 giờ. Tổng liều không quá 200 mg/24
giờ.
QUÁ LIỀU