Nissel có thành phần hoạt chất chính là
dimethyl-4,4'-dimethoxy-5,6,5',6'-dimethylene dioxybiphenyl-2,2'-dicarboxylate.
Chất này đã được sử dụng rộng rãi trong việc
điều trị viêm gan siêu vi mạn và viêm gan do thuốc.
Tác dụng dược lý :
Cơ chế là do sự ức chế sự peroxyd hóa lipid và
việc gắn cộng hóa trị các chất chuyển hóa của CCl4 với lipid của tiểu
thể.
Hiệu quả lâm sàng :
Sau điều trị, 80% bệnh nhân có SGPT tăng cao
trở về giới hạn bình thường.
Nissel cải thiện đáng kể tình trạng chức năng
gan bị suy yếu thể hiện qua việc bilirubin và
a-fetoprotein
huyết tăng cao.
Sau khi điều trị, các tổn thương mô gan như
thoái hóa ái toan, thể ái toan, hoại tử khu trú và rải rác đều biến mất.
Nissel cũng có công hiệu tốt trong việc điều
trị viêm gan do thuốc (thuốc trị ung thư, thuốc kháng sinh và kháng lao...).
Nissel còn làm giảm các triệu chứng của bệnh
nhân như đau gan, mệt và cảm giác trướng bụng...
Tác dụng điều trị của Nissel trên viêm gan mạn
tiến triển và viêm gan mạn tồn tại tỏ ra tốt hơn so với glycyrrhizin và
silymarin.
Thử nghiệm lâm sàng tại Việt Nam :
Một nghiên cứu được thực hiện tại Trung Tâm
Bệnh Nhiệt Đới thành phố Hồ Chí Minh với 20 bệnh nhân được cho dùng Nissel 3-4
viên/ngày cho thấy thuốc làm giảm SGPT trong 1 - 3 tháng đầu, tháng 4 - 6 luôn ở
trị số bình thường. Tuy nhiên nghiên cứu này còn giới hạn chưa tìm hiểu ảnh
hưởng của Nissel lên virus VGB.
Một nghiên cứu tiền cứu có đối chứng mù cũng
vừa được thực hiện mới đây tại Phòng Khám Đa Khoa trường đại học Y Dược thành
phố Hồ Chí Minh với bệnh nhân cả nam lẫn nữ có HBsAg (+) hay/và antiHCV (+),
đồng thời men ALT cao gấp hai lần mức giới hạn bình thường kéo dài trên 6 tháng.
Tổng số bệnh nhân là 45 người được chia làm hai lô có đặc điểm lựa chọn tương
đương có lịch sử nhiễm viêm gan siêu vi B hoặc C trong nhóm điều trị lâu hơn so
với nhóm chứng : lô chứng (19 người) được cho dùng BAR 2 viên x 3 lần/ngày và
nhóm điều trị Nissel 0,025 g, 2 viên x 3 lần/ngày. Các bệnh nhân được làm xét
nghiệm sinh hóa gồm men ALT (SGPT), AST (SGOT), gammaglutamyl transpeptidase,
bilirubin, albumin, globulin, protein huyết thanh, hematocrit, bạch cầu, hồng
cầu, tiểu cầu vào các thời điểm trước khi điều trị, tháng điều trị thứ 1, thứ 3
và thứ 6, đồng thời theo dõi cân nặng, triệu chứng lâm sàng và tác dụng phụ khi
uống thuốc. Sau thời gian điều trị 1, 3 tháng với BAR, men ALT, AST trong nhóm
chứng thay đổi không có ý nghĩa thống kê trong khi đó ALT ở nhóm điều trị Nissel
giảm rõ rệt mặc dù men AST giảm ít hơn so với mức ban đầu sau 1, 3, 6 tháng điều
trị. Nissel không làm thay đổi giá trị các xét nghiệm huyết học và sinh hóa
khác. Trong số 9 bệnh nhân nhóm điều trị có HBeAg (+) có 2 trường hợp xảy ra đảo
ngược huyết thanh với sự hình thành antiHBe. Nissel không ảnh hưởng lên cân nặng
của bệnh nhân. Các tác dụng phụ hiếm gặp và không nghiêm trọng.
CHỈ ĐỊNH