Corticoid làm giảm đáp ứng viêm của nhiều loại
tác nhân khác nhau và chúng có thể trì hoãn hay làm chậm liền vết thương. Vì
corticoid có thể ức chế cơ chế đề kháng của cơ thể chống lại nhiễm trùng cho nên
có thể sử dụng đồng thời với thuốc kháng khuẩn khi thấy rằng tác dụng ức chế đó
có ý nghĩa quan trọng về mặt lâm sàng. Dexamethasone là một loại corticoid mạnh.
Trong hỗn hợp bao gồm cả thành phần kháng sinh
(tobramycin) để có tác dụng chống lại những vi khuẩn nhạy cảm. Những nghiên cứu
in vitro cho thấy rằng tobramycin có tác dụng chống lại những chủng nhạy
cảm của các loại vi khuẩn sau đây :
Các Staphylococcus, bao gồm S. aureus và S.
epidermidis (coagulase dương tính và coagulase âm tính), kể cả những chủng đề
kháng với penicillin.
Các Streptococcus, bao gồm một số loại liên cầu
tan máu nhóm A, vài chủng không tan máu và một vài chủng Streptococcus
pneumoniae. Pseudomonas aeruginosa, Escherichia coli, Klebsiella pneumoniae,
Enterobacter aerogenes, Proteus mirabilis, Morganella morganii, hầu hết các
chủng Proteus vulgaris, Hemophilus influenzae và một vài loại Neisseria.
Những nghiên cứu về tính nhạy cảm của vi khuẩn
cho thấy rằng trong một vài trường hợp những vi khuẩn đề kháng với gentamicin
vẫn còn nhạy cảm với tobramycin. Hiện nay chưa xuất hiện một quần thể vi khuẩn
lớn đề kháng với tobramycin : tuy nhiên sự đề kháng của vi khuẩn có thể phát
triển khi sử dụng thuốc kéo dài.
Chưa có số liệu về mức độ hấp thu toàn thân của
thuốc mỡ và huyền dịch nhỏ mắt Tobradex : tuy nhiên, người ta biết rằng có thể
có hấp thu toàn thân đối với các thuốc dùng tại chỗ ở mắt. Nếu cho huyền dịch
nhỏ mắt Tobradex với liều lượng tối đa trong 48 giờ đầu (nhỏ hai giọt vào mỗi
mắt mỗi 2 giờ) và nếu có hấp thu toàn thân hoàn toàn (điều này rất ít khả năng
xảy ra) thì khi có liều lượng dexamethasone hàng ngày sẽ là 2,4 mg. Liều thay
thế sinh lý thông thường là 0,75 mg/ngày. Sau 48 giờ đầu nếu cho huyền dịch nhỏ
mắt Tobradex với liều 2 giọt vào mỗi mắt mỗi 4 giờ, khi đó liều dexamethasone đã
cho sẽ là 1,2 mg/ngày. Dùng thuốc mỡ tra mắt Tobradex 4 lần mỗi ngày ở cả hai
mắt thì liều dexamethasone là 0,4 mg/ngày.
CHỈ ĐỊNH
Không dùng để tiêm vào mắt. Đối với một số bệnh
nhân có thể xảy ra hiện tượng mẫn cảm với các loại aminoglycoside sử dụng tại
chỗ. Ngưng thuốc nếu xảy ra phản ứng mẫn cảm.
Sử dụng steroid kéo dài có thể dẫn đến
glaucome, kèm theo tổn thương thần kinh thị giác, khiếm khuyết thị lực và thị
trường và cataract dưới bao sau. Nên theo dõi nhãn áp một cách thường quy mặc dù
biện pháp này khó thực hiện ở trẻ em và những bệnh nhân không hợp tác. Sử dụng
thuốc dài ngày có thể làm giảm đáp ứng của cơ thể và vì vậy tăng nguy cơ nhiễm
trùng thứ phát ở mắt. Trong trường hợp bệnh làm mỏng giác mạc hay củng mạc, đã
có trường hợp thủng nhãn cầu khi sử dụng các steroid tại chỗ. Trong những bệnh
nung mủ cấp tính ở mắt, các steroid có thể che lấp dấu hiệu nhiễm trùng hay làm
nặng thêm nhiễm trùng hiện có.
THẬN TRỌNG LÚC DÙNG
Đã xảy ra những tác dụng ngoại ý khi sử dụng
những thuốc phối hợp steroid và kháng khuẩn, những phản ứng này có thể là do
thành phần steroid, thành phần kháng khuẩn hay do cả hỗn hợp. Chưa có số liệu
chính xác về tần suất các tác dụng ngoại ý. Những tác dụng ngoại ý thường gặp
nhất đối với tobramycin nhỏ mắt (Tobrex) là những phản ứng độc tại chỗ đối với
mắt và quá mẫn, bao gồm ngứa và phù mi mắt, và đỏ kết mạc. Những phản ứng này
xảy ra chưa đến 4% số bệnh nhân. Những tác dụng ngoại ý khác chưa được báo cáo ;
tuy nhiên, nếu sử dụng đồng thời tobramycin tại chỗ ở mắt và những kháng sinh
toàn thân khác thuộc nhóm aminoglycoside thì nên thận trọng theo dõi tổng nồng
độ thuốc trong huyết thanh. Những phản ứng do thành phần steroid là : tăng nhãn
áp (IOP) có khả năng tiến triển đến glaucome, tổn thương thần kinh thị không
thường xuyên ; cataract dưới bao sau ; và chậm liền vết thương.
Nhiễm khuẩn thứ phát : nhiễm khuẩn thứ phát đã
có xảy ra sau khi sử dụng những thuốc chứa steroid và kháng sinh. Nhiễm nấm ở
giác mạc đặc biệt dễ xảy ra sau khi sử dụng steroid dài ngày. Khi đã điều trị
bằng steroid phải xem xét khả năng nhiễm nấm trong bất kỳ trường hợp nào có loét
giác mạc kéo dài.
Nhiễm khuẩn thứ phát cũng xảy ra do giảm đáp
ứng của cơ thể.
LIỀU LƯỢNG và CÁCH DÙNG
Huyền dịch : nhỏ vào túi cùng kết mạc 1 hay 2
giọt mỗi 4-6 giờ. Trong 24 đến 48 giờ đầu có thể tăng liều lên đến 1 hay 2 giọt
mỗi 2 giờ. Nên giảm dần số lần nhỏ thuốc khi có cải thiện các dấu hiệu lâm sàng.
Thận trọng không nên ngưng điều trị quá sớm.
Thuốc mỡ : tra một lượng nhỏ (dài khoảng 1/2
inch, khoảng 1 cm) vào túi cùng kết mạc 3-4 lần/ngày.
Có thể dùng Thuốc mỡ tra mắt Tobradex trước khi
đi ngủ kết hợp với huyền dịch nhỏ mắt Tobradex trong ngày. Ban đầu không nên kê
toa quá 20 ml hay 8 g và không nên kê toa lại mà không có đánh giá thêm như đã
phác họa ở trên trong phần Thận trọng lúc dùng.
BẢO QUẢN