Điều trị suy giảm chức năng não lúc tuổi già
:
Nimotop không được dùng cho bệnh nhân suy gan
trầm trọng (như xơ gan).
Ở những bệnh nhân lớn tuổi có nhiều bệnh, bệnh
nhân suy thận nặng (tốc độ lọc cầu thận < 20 ml/phút) và ở những người suy tim
mạch, nhu cầu điều trị với Nimotop nên được thận trọng cân nhắc và nên khám kiểm
tra đều đặn.
Cần cẩn thận ở bệnh nhân có huyết áp thấp trầm
trọng (huyết áp tâm thu < 90 mmHg đối với dạng uống và < 100 mmHg đối với dạng
truyền tĩnh mạch).
Sự sử dụng mãn tính các thuốc chống động kinh
như phenobarbital, phenytoin hay carbamazepine làm giảm đáng kể sinh khả dụng
của nimodipine dùng theo đường uống. Do đó, không nên sử dụng đồng thời
nimodipine dùng đường uống và các thuốc chống động kinh này.
Dự phòng và điều trị khiếm khuyết thần kinh
do thiếu máu cục bộ sau khi xuất huyết dưới nhện :
Phải cẩn thận khi sử dụng Nimotop nếu thành
phần nước của mô não cao (phù não lan tỏa) hay nếu có áp lực nội sọ tăng đáng
kể.
Để phù hợp theo hướng dẫn sử dụng thuốc và do
tính an toàn, chỉ nên sử dụng Nimotop trong thai kỳ nếu có chỉ định nghiêm ngặt
của bác sĩ.
LÚC CÓ THAI và LÚC NUÔI CON
BÚ
- Tác dụng trên đường tiêu hóa : buồn nôn, viêm
loét dạ dày tá tràng, đôi khi bị liệt ruột (rối loạn vận động ruột do liệt
ruột).
- Tác dụng trên hệ thần kinh : chóng mặt, nhức
đầu.
- Tác dụng trên hệ tim mạch : huyết áp giảm
đáng kể, đặc biệt khi các trị số ban đầu tăng cao, bừng mặt, đổ mồ hôi, cảm giác
ấm hay nóng, giảm nhịp tim (tim chậm) hay hiếm hơn là gia tăng nhịp tim (tim
nhanh).
- Tác dụng trên máu và các thành phần của máu :
rất hiếm khi có giảm tiểu cầu.
- Ảnh hưởng lên các thông số xét nghiệm.
- Tăng transaminase, phosphatase kiềm, và
g-glutamyl-transferase
(g-GT),
suy thận cùng với gia tăng urea huyết thanh và/hoặc creatinine và ngoại tâm thu.
Nên lưu ý trong suốt quá trình điều trị với Nimotop dạng truyền tĩnh mạch rằng
thuốc chứa 23,7% thể tích cồn (200 mg cồn trong 1 ml dung dịch) và 17%
polyethylene glycole 400.
- Phản ứng tại chỗ : viêm tĩnh mạch (do tiêm
truyền dung dịch truyền Nimotop không pha loãng vào tĩnh mạch ngoại vi).
Ảnh hưởng lên khả năng lái xe :
Nói chung, khả năng lái xe và thao tác máy móc
bị suy giảm do có thể bị chóng mặt. Trong trường hợp dùng dịch truyền Nimotop,
ảnh hưởng này nói chung là không quan trọng.
LIỀU LƯỢNG và CÁCH DÙNG
Nimotop dạng uống :
Liều lượng :
Điều trị suy giảm chức năng não lúc tuổi già
:
Liều hàng ngày khuyến cáo là 3 x 1 viên bao
Nimotop (3 x 30 mg nimodipine).
Trong rối loạn chức năng thận trầm trọng, tác
dụng chính của thuốc và tác dụng ngoại ý như giảm huyết áp có thể biểu hiện rõ
rệt hơn : Trong những trường hợp như vậy, nếu cần thiết, nên giảm liều theo tình
trạng huyết áp và kết quả điện tâm đồ.
Dự phòng và điều trị khuyết tật thần kinh do
thiếu máu cục bộ sau khi xuất huyết dưới nhện :
Phác đồ khuyến cáo là truyền dịch truyền
Nimotop trong 5-14 ngày, sau đó uống mỗi ngày 6 x 2 viên bao Nimotop (6 x 60 mg
nimodipine).
Trong rối loạn chức năng thận hay gan trầm
trọng, đặc biệt khi có xơ gan, tác dụng chính của thuốc và tác dụng ngoại ý như
giảm huyết áp có thể biểu hiện rõ rệt hơn ; trong những trường hợp như vậy, nếu
cần thiết, nên giảm liều theo tình trạng huyết áp và kết quả điện tâm đồ.
Cách dùng :
Nói chung, nên nuốt trọn viên bao Nimotop với
nước, không cần phải lưu ý đến việc cách xa bữa ăn.
Thời gian giữa hai lần dùng thuốc không nên
dưới 4 giờ.
Nimotop dạng truyền tĩnh mạch :
Liều lượng :
Truyền tĩnh mạch :
Khởi đầu trị liệu truyền 1 mg nimodipine (= 5
ml dịch truyền Nimotop/giờ) trong vòng 2 giờ (khoảng 15
mg/kg thể
trọng/giờ). Nếu liều này được dung nạp tốt, và đặc biệt nếu huyết áp không giảm
đáng kể, sau 2 giờ gia tăng liều đến 2 mg nimodipine (= 10 ml dịch truyền
Nimotop/giờ) (khoảng 30
mg/kg thể
trọng/giờ). Bệnh nhân có thể trọng thấp hơn nhiều so với 70 kg hay có huyết áp
không ổn định nên bắt đầu với liều 0,5 mg nimodipine (= 2,5 ml dịch truyền
Nimotop/giờ).
Nhỏ giọt vào khoang dưới nhện :
20 ml dịch truyền Nimotop pha loãng : 1 ml dịch
truyền Nimotop và 19 ml dung dịch Ringer. Phải sử dụng ngay sau khi pha.
Trên bệnh nhân bị tác dụng ngoại ý, khi cần
thiết nên giảm liều hay ngưng thuốc. Suy gan nặng, đặc biệt là xơ gan, có thể
dẫn đến sự gia tăng sinh khả dụng của nimodipine do giảm khả năng chuyển hóa đầu
tiên tại gan và giảm thanh thải chuyển hóa. Tác dụng chính của thuốc và tác dụng
ngoại ý như giảm huyết áp có thể biểu hiện rõ rệt hơn. Trong những trường hợp
như vậy, nếu có thể được nên giảm liều theo tình trạng huyết áp ; nếu cần thiết,
nên xem xét đến việc ngưng thuốc.
Cách sử dụng :
Dịch truyền Nimotop được sử dụng bằng cách tiêm
truyền tĩnh mạch nhỏ giọt qua một catheter trung tâm bằng một bơm tiêm. Nên cho
thuốc qua một khóa vòi ba chiều cùng lúc với hoặc dung dịch glucose 5%, sodium
chloride 0,9%, dung dịch lactate Ringer, dung dịch lactate Ringer với magnesium,
dung dịch Dextran 40 hay HAES [poly(O-2-hydroxyethyl] tinh bột 6% trong tỷ lệ
khoảng 1:4 của Nimotop : dịch truyền pha chung). Mannitol, albumin người hay máu
cũng thích hợp để truyền chung.
Không được cho dịch truyền Nimotop vào một bao
hay chai dịch truyền và không được trộn lẫn với các thuốc khác. Nên tiếp tục
truyền Nimotop trong khi gây mê, phẫu thuật và chụp X quang mạch máu.
Nên sử dụng một khóa vòi ba chiều để gắn kết
ống polyethylene Nimotop với đường dịch truyền sử dụng đồng thời và catheter
trung tâm.
Thời gian truyền dịch :
Dự phòng :
Xuất huyết dưới nhện do phình mạch :
Nên bắt đầu truyền tĩnh mạch trong vòng 4 ngày
sau khi xuất huyết và tiếp tục trong suốt giai đoạn nguy cơ co thắt mạch lớn
nhất, nghĩa là cho đến 10-14 ngày sau khi xuất huyết dưới nhện.
Nếu trong quá trình sử dụng Nimotop để dự
phòng, nguyên nhân xuất huyết được điều trị bằng phẫu thuật, nên tiếp tục truyền
Nimotop sau phẫu thuật ít nhất 5 ngày.
Sau khi kết thúc tiêm tuyền, nên tiếp tục uống
6 x 60 mg nimodipine mỗi ngày với khoảng cách 4 giờ trong khoảng 7 ngày sau đó.
Xuất huyết dưới nhện do chấn thương :
Nên bắt đầu truyền trong vòng 24 giờ sau khi
xuất huyết, càng sớm càng tốt sau khi chẩn đoán thấy có máu ở dưới nhện, và tiếp
tục truyền trong 7-10 ngày.
Sau khi kết thúc truyền tĩnh mạch, nên tiếp tục
uống 6 x 60 mg nimodipine mỗi ngày với khoảng cách 4 giờ trong 11-14 ngày sau đó
làm kéo dài tổng số thời lượng điều trị (tiêm truyền + uống thuốc) đến 21 ngày.
Điều trị :
Xuất huyết dưới nhện chỉ do phình mạch :
- Nếu các rối loạn thần kinh do thiếu máu cục
bộ do co thắt mạch sau khi đã có sẵn xuất huyết dưới nhện, nên bắt đầu càng sớm
càng tốt và tiếp tục ít nhất 5 ngày cho đến tối đa là 14 ngày.
- Sau đó, nên uống 6 x 60 mg nimodipine mỗi
ngày với khoảng cách 4 giờ trong 7 ngày.
Nếu trong quá trình dùng Nimotop để dự phòng
hay điều trị, nguyên nhân xuất huyết được điều trị bằng phẫu thuật, nên tiếp tục
truyền Nimotop sau phẫu thuật ít nhất 5 ngày.
Nhỏ giọt vào khoảng dưới nhện :
Xuất huyết dưới nhện chỉ do phình mạch :
Trong quá trình phẫu thuật, có thể truyền nhỏ
giọt vào khoảng dưới nhện dung dịch Nimotop vừa mới pha loãng (1 ml dịch truyền
Nimotop và 19 ml dung dịch Ringer) làm ấm đến nhiệt độ máu. Phải sử dụng dung
dịch pha loãng Nimotop ngay sau khi pha chế.
Tính tương kỵ :
Do hoạt chất của dịch truyền Nimotop bị hấp thu
bởi polyvinyl-chloride (PVC), chỉ có thể sử dụng ống dịch truyền polyethylene
(PE).
Hoạt chất của dịch truyền Nimotop hơi nhạy cảm
với ánh sáng do đó nên tránh sử dụng thuốc dưới sáng mặt trời trực tiếp. Nếu
không tránh được sự tiếp xúc này, nên sử dụng ống bơm thủy tinh, và dây truyền
dịch màu đen, nâu, vàng hay đỏ hoặc bảo vệ bơm truyền và ống bằng bao giấy bóng
mờ. Tuy nhiên, không cần biện pháp bảo vệ đặc biệt nào trong vòng 10 giờ nếu
truyền Nimotop dưới ánh sáng gián tiếp hay ánh sáng nhân tạo.
QUÁ LIỀU