Rilmenidine là một oxazoline có đặc tính trị
tăng huyết áp, tác động đồng thời trên trung tâm điều hòa vận mạch của hành não
và ở ngoại biên. Rilmenidine có tính chọn lọc cao hơn trên các thụ thể của
imidazoline so với các thụ thể a2-adrenergic
ở não, do đó khác biệt với các chất chủ vận
a2.
Thực nghiệm trên chuột tăng huyết áp di truyền
cho thấy tác dụng hạ huyết áp của rilmenidine phụ thuộc vào liều dùng. Trong thử
nghiệm trên động vật, rilmenidine chỉ gây tác dụng trên thần kinh trung ương như
thường thấy ở các thuốc chủ vận a2
khi dùng đến liều cao hơn liều trị tăng huyết áp. Tác dụng ức chế thần kinh
trung ương dường như không đáng kể. Việc tách biệt giữa tác động trị tăng huyết
áp và tác dụng trên thần kinh đã được xác nhận ở người. Rilmenidine có tác động
trị tăng huyết áp phụ thuộc vào liều trên huyết áp động mạch thì tâm thu và thì
tâm trương ở tư thế nằm và tư thế đứng.
Ở liều điều trị 1 mg/ngày uống một lần hoặc 2
mg/ngày chia làm 2 lần, các nghiên cứu có đối chứng với giả dược cho thấy thuốc
có hiệu lực trị tăng huyết áp trên chứng tăng huyết áp nhẹ và vừa. Hiệu lực của
thuốc được duy trì qua đêm và khi có gắng sức. Các kết quả này đã được xác nhận
qua các nghiên cứu dài hạn đều cho kết quả điều trị tốt.
Ở liều 1 mg/ngày, các nghiên cứu có đối chứng
với giả dược cho thấy rằng thuốc không ảnh hưởng đến sự tập trung ; một số
trường hợp ngẫu nhiên như buồn ngủ, khô miệng, táo bón thì xảy ra với tần suất
tương tự như nhóm giả dược.
Ở liều 2 mg/ngày, các nghiên cứu có đối chứng
với thuốc chủ vận a2
được dùng ở liều cho tác dụng hạ áp tương tự nhau cho thấy những tác dụng phụ
xảy ra thấp hơn đáng kể về mức độ và tần suất đối với nhóm sử dụng rilmenidine.
Ở liều điều trị, rilmenidine không ảnh hưởng
đến các chức năng của tim, không gây giữ muối - nước và không làm xáo trộn sự
cân bằng chuyển hóa :
- thuốc duy trì tác dụng hạ huyết áp trong 24
giờ sau khi uống thuốc với giảm kháng lực ngoại biên toàn phần, không làm thay
đổi lưu lượng tim. Các chỉ số về tính co bóp và điện sinh lý của tim không bị
thay đổi ;
- thuốc không ảnh hưởng đến khả năng thích ứng
khi thay đổi tư thế, đặc biệt là ở người già, và đáp ứng sinh lý của tần số tim
khi gắng sức ;
- thuốc không làm thay đổi lưu lượng máu ở
thận, quá trình lọc ở cầu thận và các chức năng của thận ;
- thuốc không làm thay đổi sự điều hòa glucid,
kể cả ở người bị tiểu đường lệ thuộc insulin hoặc không, và không làm thay đổi
các thông số của chuyển hóa lipid.
DƯỢC ĐỘNG HỌC
Hấp thu :
- nhanh : sau khi uống một liều duy nhất từ 1
giờ 30 đến 2 giờ, thuốc đạt nồng độ tối đa trong huyết tương là 3,5 ng/ml ;
- hoàn toàn : sinh khả dụng tuyệt đối của thuốc
là 100%, không bị giảm tác dụng sau vòng chuyển hóa qua gan đầu tiên ;
- đều : sự khác biệt về mức độ chuyển hóa giữa
người này và người khác rất thấp và thức ăn không làm thay đổi sinh khả dụng của
thuốc ; tỷ lệ hấp thu không thay đổi khi dùng ở liều khuyến cáo.
Phân phối :
Tỷ lệ gắn với protein huyết tương dưới 10%.
Thể tích phân phối là 5 l/kg.
Chuyển hóa :
Rilmenidine bị chuyển hóa rất ít. Các chất
chuyển hóa được tìm chỉ ở dạng vết trong nước tiểu, chủ yếu là do sự thủy phân
vòng oxazoline hoặc do bị oxy hóa. Các chất chuyển hóa không có hoạt tính chủ
vận a2.
Đào thải :
Rilmenidine được đào thải chủ yếu qua thận :
65% liều dùng được bài tiết qua nước tiểu dưới dạng không bị biến đổi. Sự thanh
thải ở thận chiếm 2/3 thanh thải toàn phần.
Thời gian bán hủy là 8 giờ : thời gian này
không bị liều dùng hay số lần dùng lặp lại làm thay đổi. Thuốc có thời gian tác
dụng kéo dài, duy trì một cách đáng kể trong 24 giờ sau lần dùng cuối cùng, ở
người tăng huyết áp được điều trị với liều 1 mg mỗi ngày.
Sau khi uống nhiều liều lặp lại, tình trạng cân
bằng đạt được ngay từ ngày thứ 3 ; nghiên cứu về nồng độ trong huyết tương trong
10 ngày đã cho thấy tính ổn định của thuốc.
Theo dõi dài hạn các nồng độ trong huyết tương
ở bệnh nhân bị tăng huyết áp (điều trị trong vòng 2 năm) đã cho thấy rằng nồng
độ của thuốc trong huyết tương luôn ở tình trạng ổn định.
- Ở người già : các nghiên cứu dược động học ở
bệnh nhân trên 70 tuổi cho thấy rằng thời gian bán hủy của thuốc là 12 giờ.
- Ở người bị suy gan : thời gian bán hủy là 11
giờ.
- Ở người bị suy thận : do thuốc chủ yếu được
đào thải chủ yếu qua thận, nên ở những bệnh nhân này tốc độ đào thải của thuốc
bị chậm lại tùy thuộc vào mức độ suy thận. Ở bệnh nhân bị suy thận nặng (thanh
thải creatinin dưới 15 ml/phút), thời gian bán hủy vào khoảng 35 giờ.
CHỈ ĐỊNH
Không ngưng thuốc đột ngột mà phải giảm liều từ
từ.
Cũng như tất cả các thuốc trị tăng huyết áp
khác, những bệnh nhân có tiền sử bị bệnh mạch máu gần đây (đột quỵ, nhồi máu cơ
tim) khi dùng thuốc phải được kiểm tra y khoa đều đặn.
Không nên uống rượu trong thời gian điều trị.
Trong suy thận, nếu thanh thải creatinin trên
15 ml/phút thì không cần phải chỉnh liều.
Do chưa có kinh nghiệm trên y văn, không nên kê
đơn cho trẻ em.
Lái xe và điều khiển máy móc : Các
nghiên cứu so sánh với giả dược không cho thấy thuốc có ảnh hưởng đến sự tập
trung khi dùng ở liều điều trị (1 hoặc 2 viên mỗi ngày). Trường hợp vượt quá
liều này hay có phối hợp với những thuốc có thể làm giảm độ tập trung, cần phải
báo trước cho những người lái xe hay điều khiển máy móc về khả năng bị buồn ngủ.
LÚC CÓ THAI và LÚC NUÔI CON
BÚ
Không nên phối hợp :
- IMAO.
- Thuốc chống trầm cảm 3 vòng : phải thật thận
trọng khi phối hợp, tác động trị tăng huyết áp của rilmenidine có thể bị đối
kháng một phần.
Có thể phối hợp :
- Do đã quan sát thấy không có tương tác với
một số liệu pháp khác nên có thể dùng phối hợp : thuốc trị tiểu đường loại uống,
insuline, thuốc hạ acid uric máu, thuốc hạ lipid máu, thuốc chống loạn nhịp,
thuốc chống đông máu, thuốc giãm đau, thuốc kháng viêm, các thuốc trị tăng huyết
áp khác, đặc biệt là các thuốc lợi tiểu, dihydralazine và thuốc chẹn bêta, ức
chế calci, ức chế men chuyển.
TÁC DỤNG NGOẠI Ý
Ở liều 1 mg/ngày, trong các nghiên cứu có kiểm
soát, các tác dụng ngoại ý xảy ra với tần suất tương tự như ở nhóm dùng giả
dược.
Ở liều 2 mg/ngày, trong các nghiên cứu có kiểm
soát, so sánh với clonidine liều 0,15-0,3 mg/ngày hay
amethyldopa
liều 500-1000 mg/ngày, các tác dụng ngoại ý được ghi nhận xảy ra với tần suất ít
hơn đáng kể so với của clonidine và
amethyldopa.
Các tác dụng ngoại ý hiếm khi xảy ra, lành tính
và chỉ thoáng qua khi dùng ở liều điều trị, bao gồm : suy nhược, đánh trống
ngực, mất ngủ, buồn ngủ, mệt khi gắng sức, đau dạ dày, khô miệng, tiêu chảy, nổi
ban ; ngoại lệ : lạnh đầu chi, hạ huyết áp tư thế, rối loạn dục năng, lo âu, hội
chứng trầm cảm, ngứa, phù, chuột rút, nôn, mửa, bốc hỏa.
LIỀU LƯỢNG và CÁCH DÙNG
Liều khuyến cáo là 1 viên mỗi ngày, uống 1 lần
duy nhất vào buổi sáng.
Trường hợp chưa đạt kết quả điều trị như mong
muốn thì có thể tăng lên 2 viên mỗi ngày, chia làm 2 lần (buổi sáng và tối),
uống vào đầu bữa ăn.
Thuốc có thể dùng được cho người lớn tuổi bị
tăng huyết áp và người tiểu đường bị tăng huyết áp.
Ở người suy thận, nếu thanh thải creatinin trên
15 ml/phút thì không cần phải chỉnh liều.
Phải dùng thuốc liên tục.
QUÁ LIỀU