Đường uống :
- Hấp thu :
Thuốc được hấp thu tốt qua đường tiêu hóa.
Sau khi uống thuốc, nồng độ progesterone huyết
tương bắt đầu tăng ngay trong giờ đầu tiên và nồng độ cao nhất được ghi nhận sau
khi uống thuốc từ 1 đến 3 giờ.
Các nghiên cứu dược động được thực hiện ở người
tình nguyện cho thấy rằng sau khi uống đồng thời 2 viên, nồng độ progesterone
huyết tương tăng trung bình từ 0,13 ng/ml đến 4,25 ng/ml sau 1 giờ, 11,75 ng/ml
sau 2 giờ, 8,37 ng/ml sau 4 giờ, 2 ng/ml sau 6 giờ và 1,64 ng/ml sau 8 giờ.
Do thuốc có thời gian lưu lại trong mô nên cần
phải chia liều hàng ngày làm 2 lần cách nhau 12 giờ để đạt tình trạng bão hòa
trong suốt 24 giờ.
Sự nhạy cảm đối với thuốc có khác nhau giữa
người này và người khác, tuy nhiên ở cùng một người thì các đặc tính dược động
thường rất ổn định, do đó khi kê toa cần chỉnh liều thích hợp cho từng người và
một khi đã xác định được liều thích hợp thì liều dùng được duy trì ổn định.
- Chuyển hóa :
Trong huyết tương, các chất chuyển hóa chính
gồm 20-a-hydroxy-d-4-a-pregnanolone
và 5-a-dihydroprogesterone.
95% được đào thải qua nước tiểu dưới dạng liên
hợp glucuronic trong đó chủ yếu là 3-a,5-b-pregnanediol
(pregnandiol). Các chất chuyển hóa trong huyết tương và nước tiểu tương tự với
các chất được tìm thấy trong quá trình chế tiết sinh lý của hoàng thể buồng
trứng.
Đường âm đạo :
- Hấp thu :
Sau khi đặt vào âm đạo, progesterone được hấp
thu nhanh qua niêm mạc âm đạo, được chứng minh qua việc nồng độ của progesterone
trong huyết tương tăng cao ngay trong giờ đầu tiên sau khi đặt thuốc.
Nồng độ tối đa trong huyết tương của
progesterone đạt được sau khi đặt thuốc từ 2 đến 6 giờ và duy trì trong 24 giờ ở
nồng độ trung bình là 9,7 ng/ml sau khi dùng liều 100 mg vào buổi sáng và buổi
tối. Với liều trung bình này, progesterone đạt nồng độ sinh lý ổn định trong
huyết tương, tương đương với nồng độ quan sát được trong pha hoàng thể của chu
kỳ kinh nguyệt rụng trứng bình thường. Sự khác biệt ít giữa người này và người
khác về nồng độ progesterone cho phép dự kiến hiệu lực của thuốc khi dùng liều
chuẩn.
Với liều cao hơn 200 mg/ngày, nồng độ
progesterone thu được tương đương với nồng độ được mô tả trong 3 tháng đầu của
thai kỳ.
- Chuyển hóa :
Trong huyết tương, nồng độ của 5-b-pregnanolone
không tăng.
Thuốc được đào thải qua nước tiểu chủ yếu dưới
dạng 3-a,5-b-pregnanediol
(pregnandiol), được chứng minh qua nồng độ chất này trong nước tiểu tăng dần
(cho đến nồng độ tối đa là 142 ng/ml ở giờ thứ 6).
CHỈ ĐỊNH
Đường uống :
Các rối loạn có liên quan đến sự thiếu
progesterone, nhất là trong các trường hợp :
- hội chứng tiền kinh nguyệt,
- kinh nguyệt không đều do rối loạn rụng trứng
hoặc không rụng trứng,
- bệnh vú lành tính,
- tiền mãn kinh,
- liệu pháp thay thế hormone trong giai đoạn
mãn kinh (bổ sung cho liệu pháp estrogene).
Đường âm đạo :
- thay thế progesterone trong các trường hợp
thiếu progesterone hoàn toàn ở phụ nữ bị lấy buồng trứng (chương trình hiến noãn
bào),
- bổ sung cho pha hoàng thể trong chu kỳ thụ
tinh trong ống nghiệm (FIV),
- bổ sung cho pha hoàng thể trong chu kỳ tự
phát hoặc được tạo ra, trong trường hợp khả năng sinh sản kém hoặc vô sinh
nguyên phát hay thứ phát nhất là do rối loạn rụng trứng,
- trong trường hợp bị đe dọa sẩy thai hoặc
phòng ngừa trong trường hợp bị sẩy thai liên tiếp do suy hoàng thể, cho đến tuần
thứ 12 sau khi tắt kinh,
- trong tất cả các chỉ định khác của
progesterone, đường âm đạo được dùng để thay thế cho đường uống trong các trường
hợp :
- có tác dụng ngoại ý của progesterone (bị buồn
ngủ sau khi uống thuốc),
- chống chỉ định đường uống (bị bệnh gan)
CHỐNG CHỈ ĐỊNH
- Trên phân nửa số trường hợp bị sẩy thai sớm
tự phát là do tai biến di truyền. Ngoài ra, các trường hợp nhiễm trùng và các
rối loạn cơ học có thể là nguyên nhân gây sẩy thai sớm. Vì vậy, dùng
progesterone có thể làm chậm việc tống phôi chết (hoặc gián đoạn thai kỳ không
tiến triển).
- Chỉ nên dùng progesterone cho những trường
hợp mà sự chế tiết của hoàng thể bị suy giảm.
- Dùng progesterone không phải là một liệu pháp
tránh thai.
- Nếu dùng Utrogestan trong thời gian mang thai
thì chỉ dùng trong 3 tháng đầu thai kỳ và dùng đường âm đạo. Utrogestan không
phải là thuốc điều trị dọa sanh non : dùng progesterone trong quý 2 và quý 3 của
thai kỳ có thể dễ gây vàng da ứ mật trong thai kỳ hoặc bệnh tế bào gan.
Lái xe và vận hành máy móc :
Khi lái xe hay vận hành máy móc cần phải lưu ý
rằng uống thuốc này có thể gây buồn ngủ và/hay cảm giác chóng mặt.
LÚC CÓ THAI và LÚC NUÔI CON
BÚ
Đường uống :
- Buồn ngủ hoặc cảm giác chóng mặt đôi khi xảy
ra ở một vài bệnh nhân sau khi uống thuốc từ 1 đến 3 giờ. Trong trường hợp này,
có thể giảm liều hoặc thay đổi cách dùng thuốc : uống 2 viên vào buổi tối lúc đi
ngủ, 12 đến 14 ngày cho mỗi chu kỳ điều trị, hoặc chuyển sang đường âm đạo.
- Thu ngắn chu kỳ kinh nguyệt hoặc gây xuất
huyết giữa chu kỳ. Trong trường hợp này phải bắt đầu đợt điều trị chậm hơn trong
chu kỳ (ví dụ như bắt đầu vào ngày thứ 19 thay vì ngày thứ 17).
Các tác dụng ngoại ý này thường xảy ra khi quá
liều.
Đường âm đạo :
- Không có trường hợp bất dung nạp thuốc tại
chỗ (nóng, ngứa hoặc chảy chất nhờn) nào được ghi nhận trong các nghiên cứu lâm
sàng.
- Không có tác dụng phụ toàn thân đặc biệt là
buồn ngủ hay cảm giác chóng mặt được ghi nhận trong các nghiên cứu lâm sàng ở
liều khuyến cáo.
LIỀU LƯỢNG và CÁCH DÙNG
Cần chấp hành đúng liều khuyến cáo.
Đường uống :
Trung bình trong các trường hợp thiếu
progesterone, liều dùng là 200 đến 300 mg progesterone mỗi ngày, tương đương với
2 đến 3 viên, chia làm 2 lần, 1 viên vào buổi sáng và 1 đến 2 viên vào buổi tối.
Nên uống thuốc xa bữa ăn, nên uống vào buổi tối trước lúc đi ngủ.
- Trong suy hoàng thể (hội chứng tiền kinh
nguyệt, bệnh vú lành tính, kinh nguyệt không đều, tiền mãn kinh) : 2 đến 3 viên
mỗi ngày, 10 ngày cho mỗi chu kỳ, thường bắt đầu từ ngày thứ 17 đến ngày thứ 26.
- Trong liệu pháp thay thế hormone trong giai
đoạn mãn kinh : liệu pháp estrogene một mình không được khuyến cáo (do nguy cơ
gây tăng sản nội mạc) : bổ sung progesterone, hoặc 2 viên mỗi ngày vào buổi tối
lúc đi ngủ, 12 đến 14 ngày mỗi tháng, hoặc 2 tuần lễ cuối của mỗi chu kỳ điều
trị, sau đó ngưng toàn bộ các trị liệu thay thế trong khoảng 1 tuần, trong thời
gian này có thể có xuất huyết do thiếu hụt hormone.
Đối với các chỉ định trên, có thể dùng đường âm
đạo với liều tương tự với đường uống, trong trường hợp bệnh nhân bị bệnh gan
và/hoặc có các tác dụng ngoại ý do progesterone (buồn ngủ sau khi uống thuốc).
Đường âm đạo :
Đặt viên nang sâu trong âm đạo.
- Thay thế progesterone trong các trường hợp
thiếu progesterone hoàn toàn ở phụ nữ bị lấy buồng trứng (hiến noãn bào) : Bổ
sung cho liệu pháp estrogene : đặt 1 viên vào ngày thứ 13 và ngày thứ 14 của chu
kỳ chuyển tiếp, sau đó đặt mỗi lần 1 viên vào buổi sáng và buổi tối từ ngày thứ
15 đến ngày thứ 25 của chu kỳ. Từ ngày thứ 26 và trong trường hợp bắt đầu có
thai, liều được tăng thêm 1 viên/ngày mỗi tuần để cuối cùng đạt đến liều tối đa
6 viên mỗi ngày chia làm 3 lần. Duy trì liều này cho đến ngày thứ 60, và trễ
nhất là cho đến tuần thứ 12 của thai kỳ.
- Bổ sung cho pha hoàng thể trong chu kỳ thụ
tinh trong ống nghiệm (FIV) : liều được khuyến cáo là 4 đến 6 viên mỗi ngày bắt
đầu từ ngày tiêm hCG cho đến tuần thứ 12 của thai kỳ.
- Bổ sung cho pha hoàng thể trong chu kỳ tự
phát hoặc được tạo ra, trong trường hợp khả năng sinh sản kém hoặc vô sinh
nguyên phát hay thứ phát nhất là do rối loạn rụng trứng : liều được khuyến cáo
là 2 đến 3 viên mỗi ngày, bắt đầu từ ngày thứ 17 của chu kỳ, trong vòng 10 ngày
và dùng lại càng nhanh càng tốt trong trường hợp tắt kinh và được chẩn đoán là
có thai.
- Dọa sẩy thai hoặc phòng ngừa trong trường hợp
bị sẩy thai liên tiếp do suy hoàng thể : liều được khuyến cáo là 2 đến 4 viên
mỗi ngày, chia làm 2 lần.