Tăng cường sự chuyển hóa acid nucleic,
protein và lipid :
Thực nghiệm với các dòng tế bào não chuột đã
cho thấy mecobalamin, bằng cách hoạt động như là một coenzyme cho quá trình tạo
methionine từ homocysteine, đã tham gia vào quá trình tổng hợp thymidine từ
deoxyuridine, và tăng cường tổng hợp ADN và ARN. Các thực nghiệm trên tế bào
thần kinh chuột cũng cho thấy mecobalamin cũng tăng cường tổng hợp lecithin, một
thành phần chủ yếu của bao myelin.
Được vận chuyển hiệu quả vào mô của tế bào
thần kinh và cải thiện các rối loạn chuyển hóa :
Thực nghiệm trên chuột cho thấy mecobalamin,
một đồng đẳng của vitamin B12 có chứa nhóm methyl, có nồng độ cao
trong máu và dịch não tủy và được vận chuyển vào trong các tiểu thể của tế bào
thần kinh mạnh hơn và nhiều hơn so với CN-B12 (cyano-cobalamin).
Thực nghiệm trên các tế bào thần kinh tọa ở
chuột đã được gây bệnh tiểu đường cho thấy mecobalamin giúp duy trì chức năng
sợi trục bằng cách tăng cường tổng hợp các protein là thành phần cấu trúc chính
của sợi trục và bình thường hóa tốc độ dẫn truyền của các protein này trong sợi
trục.
Phục hồi các tổn thương dây thần kinh trên
mô hình bệnh thần kinh ngoại biên thực nghiệm :
Các thực nghiệm bệnh lý học thần kinh và điện
sinh lý cho thấy mecobalamin ngăn chặn sự thoái hóa sợi thần kinh ở chuột và thỏ
được gây bệnh thần kinh ngoại biên thực nghiệm bằng các thuốc như Adriamicin và
Vincristine, hoặc gây tiểu đường thực nghiệm bằng Streptozotocin. Hiệu quả của
mecobalamin đồng thời được nghiên cứu trên mô hình chuột bạch được gây liệt mặt
do chèn ép dây thần kinh. Quá trình phục hồi được đánh giá thông qua phản xạ
chớp mắt, xung điện cơ và khảo sát mô học. Hiệu quả điều trị của nhóm dùng
mecobalamin cũng đạt hiệu quả tương tự như nhóm dùng steroid trong việc đẩy
nhanh quá trình hồi phục của mô thần kinh bị tổn thương.
Ức các xung thần kinh bất thường do kích
thích của mô thần kinh :
Rễ trước và rễ sau của dây thần kinh tủy sống
được cắt rời khỏi tủy sống ếch và được nối với dây thần kinh tọa. Kích thích
điện vào đầu dưới của dây thần kinh đã được ngâm trong dung dịch Ringers và ghi
lại hiệu điện thế hoạt động ở rễ trước và rễ sau của tủy sống. Sau đó hòa tan
DBCC, OH-B12, CH3-B12 lần lượt vào dung dịch
Ringers trên ở nồng độ 500 mg/ml
và so sánh tác dụng ức chế của các chất này đối với các xung dẫn truyền bất
thường. Kết quả cho thấy tác dụng ức chế các xung kích thích thần kinh của
mecobalamin (CH3-B12) là mạnh nhất.
Cải thiện tình trạng thiếu máu nhờ quá trình
thúc đẩy trưởng thành và phân chia của nguyên hồng cầu :
Mecobalamin tăng cường tổng hợp acid nucleic
trong tủy xương, cũng như sự trưởng thành và phân chia của nguyên hồng cầu, kết
quả là gia tăng số lượng hồng cầu. Điều trị bằng mecobalamin cho thấy có tác
dụng hồi phục nhanh các chỉ số như : số lượng hồng cầu, hemoglobin và hematocrit
ở chuột thiếu máu do thiếu vitamin B12.
DƯỢC ĐỘNG HỌC
Viên nén : uống 1 viên, 3 lần/ngày sau bữa ăn.
Ống tiêm :
Bệnh lý thần kinh ngoại biên : liều
thông thường đối với người lớn là 1 ống (500
mg
mecobalamin), tiêm bắp hoặc tiêm tĩnh mạch, ba lần một tuần. Liều nên được điều
chỉnh tùy theo tuổi của bệnh nhân và mức độ nặng nhẹ của các triệu chứng.
Thiếu máu hồng cầu to : liều thông
thường đối với người lớn là 1 ống (500 mg
mecobalamin), tiêm bắp hoặc tiêm tĩnh mạch, ba lần một tuần. Sau khoảng 2 tháng
điều trị, liều nên giảm xuống thành liều duy trì ở mức từ 1 đến 3 tháng tiêm
nhắc lại một ống.
BẢO QUẢN