Trước khi bắt đầu điều trị, cần loại trừ hay
điều chỉnh các tắc nghẽn đường tiểu, viêm bàng quang, nhiễm trùng và rối loạn
điện giải.
Nói chung, Holoxan cũng giống như các thuốc kìm
tế bào khác, cần được sử dụng thận trọng ở bệnh nhân lớn tuổi và ở những bệnh
nhân đã được xạ trị trước đó.
Cũng cần thận trọng đặc biệt ở những bệnh nhân
có hệ miễn dịch suy yếu, như bệnh nhân đái tháo đường, suy gan hay suy thận mãn.
Những bệnh nhân bị di căn não, có triệu chứng
não và/hoặc bị suy giảm chức năng thận phải được theo dõi chặt chẽ.
Các biện pháp và/hoặc các xét nghiệm sau được
chỉ định làm để hạn chế hay làm giảm bớt các tác dụng bất lợi :
- Dùng thuốc chống ói kịp thời.
- Xét nghiệm công thức máu đều đặn.
- Kiểm tra đều đặn các thông số chức năng thận.
- Kiểm tra đều đặn xét nghiệm tổng phân tích
nước tiểu và cặn lắng nước tiểu.
Trong trường hợp tổn thương gan hay thận trước
khi bắt đầu điều trị, việc sử dụng Holoxan phải được cân nhắc trên từng bệnh
nhân. Người ta khuyến cáo các bệnh nhân này khi được điều trị với Holoxan cần
phải được theo dõi thường xuyên hơn.
Phải kiểm tra đều đặn đường huyết ở bệnh nhân
đái tháo đường để điều chỉnh việc điều trị kịp thời.
Nhất thiết phải bảo đảm bài niệu thỏa đáng.
Sốt và/hoặc giảm bạch cầu nặng đòi hỏi phải
điều trị dự phòng bằng kháng sinh và/hoặc kháng nấm.
Cần lưu ý vệ sinh răng miệng kỹ càng.
Ảnh hưởng lên khả năng lái xe và sử dụng máy
móc :
Holoxan có thể ảnh hưởng lên khả năng lái xe và
sử dụng máy móc của bệnh nhân. Điều này có thể xảy ra do ảnh hưởng trực tiếp của
bệnh não do dùng thuốc hay do ảnh hưởng gián tiếp của buồn nôn và ói, đặc biệt
là khi có sử dụng đồng thời các thuốc có tác động lên thần kinh trung ương hay
rượu.
LÚC CÓ THAI và LÚC NUÔI CON
BÚ
Độc tính lên tủy xương có thể tăng lên do sự
tương tác với các thuốc kìm tế bào khác hay với xạ trị. Ifosfamide có thể làm
tăng phản ứng da với tia xạ.
Cho trước đó hay sử dụng đồng thời các thuốc
độc đối với thận như cisplatin, aminoglycosides, acyclovir hay amphotericin B có
thể làm tăng tác dụng độc đối với thận của ifosfamide cũng như các tác dụng độc
đối với huyết học và thần kinh (trung ương).
Do tác dụng ức chế miễn dịch của ifosfamide, có
thể có sự giảm đáp ứng với thuốc chủng ngừa. Chủng ngừa virus sống có thể gây ra
tổn thương do chủng ngừa.
Sử dụng đồng thời ifosfamide có thể làm tăng
tác dụng kháng đông của warfarin và do đó làm tăng nguy cơ xuất huyết.
Giống như cyclophosphamide, tác tương tác sau
có thể xảy ra :
- Tác động ức chế tủy có thể bị tăng lên do
dùng đồng thời allopurinol hay hydrochlorothiazide.
- Hiệu quả và tác dụng độc có thể tăng lên do
dùng đồng thời chlorpromazin, triiodothyronine hay thuốc ức chế aldehyde
dehydrogenase như disulfiram.
- Việc điều trị thuốc này có thể làm tăng tác
dụng hạ đường huyết của các sulfonylurea.
- Điều trị trước đó hay đồng thời với
phenobarbital, phenytoin hay chloral hydrate ảnh hưởng đến khả năng dẫn nhập men
gan qua ty thể và do đó làm chuyển hóa nhanh hơn ifosfamide.
- Việc điều trị thuốc này có thể làm tăng nhanh
tác dụng dãn cơ của suxamethonium.
TÁC DỤNG NGOẠI Ý
Bệnh nhân điều trị với Holoxan có thể gặp các
tác dụng phụ sau :
Ức chế tủy xương :
Các mức độ ức chế tủy xương khác nhau có thể
xảy ra (giảm bạch cầu, giảm tiểu cầu, thiếu máu), phụ thuộc vào liều. Thường cần
phải lưu ý đến giảm bạch cầu kèm nguy cơ nhiễm trùng đe dọa sự sống và giảm tiểu
cầu kèm nguy cơ xuất huyết. Số lượng bạch cầu và tiểu cầu thường giảm thấp nhất
vào 1 đến 2 tuần sau khi bắt đầu điều trị và hồi phục trong vòng 3 đến 4 tuần.
Việc phối hợp điều trị với các thuốc ức chế tủy khác có thể cần phải điều chỉnh
liều. Điều trị cao một lần thường dẫn đến giảm bạch cầu nhiều hơn là chế độ điều
trị phân liều nhỏ. Ở các bệnh nhân đã được điều trị từ trước (bằng hóa trị
và/hoặc xạ trị) hay ở các bệnh nhân có kèm suy chức năng thận, có thể bị ức chế
tủy nặng nề hơn. Điều trị với ifosfamide cũng như với các thuốc kìm tế bào khác,
cần phải làm công thức máu trước mỗi đợt hóa trị cũng như trong khoảng thời gian
giữa các đợt điều trị. Tùy theo kết quả xét nghiệm máu mà sẽ có điều chỉnh liều
cho thích hợp (xem bảng)
Lưu ý : Hướng dẫn giảm liều trong ức chế tủy
| Số lượng bạch cầu |
Số lượng tiểu cầu |
|
| > 4000 |
> 100.000 |
100% liều dự định |
| 4000-2500 |
100.000-50.000 |
50% liều dự định |
| < 2500 |
< 50.000 |
Hoãn điều trị cho đến khi công thức máu về
bình thường hay hướng quyết định tùy từng bệnh nhân |
Độc tính lên thận và đường tiểu :
Viêm bàng quang xuất huyết (tiểu máu vi thể và
đại thể) là biến chứng thường gặp, phụ thuộc vào liều ifosfamide sử dụng.
Lưu ý : Liều phân nhỏ, bù nước đầy đủ, duy trì
thăng bằng nước điện giải và đặc biệt là dùng kèm thêm mesna (Uromitexan) có thể
làm giảm đáng kể tần suất và mức độ nặng của viêm bàng quang xuất huyết.
Các rối loạn chức năng thận kèm tăng creatinine
trong huyết thanh, giảm độ thanh lọc creatinine và tiểu đạm thỉnh thoảng có xảy
ra, hay thường gặp hơn là các rối loạn chức năng ống thận kèm tăng acid amin
trong nước tiểu, tiểu phosphate, toan hóa hay tiểu đạm. Các bệnh thận nặng hiếm
gặp. Các yếu tố nguy cơ có thể có của rối loạn chức năng cầu thận là dùng thuốc
liều cao và điều trị thêm các thuốc chứa platinum. Các yếu tố nguy cơ của rối
loạn chức năng ống thận là cắt bỏ thận trước đó, điều trị thêm các thuốc chứa
platinum hay xạ trị đồng thời vùng bụng gồm cả hai thận hay là một thận còn lại.
Nên thận trọng khi sử dụng đồng thời các thuốc có khả năng gây độc cho thận như
aminoglycosides, acyclovir hay amphotericin B. Các thuốc này không làm tăng rối
loạn ống thận, nhưng có thể gây ra suy giảm hơn nữa chức năng cầu thận.
Trong các trường hợp hiếm, các bệnh nhân bị rối
loạn ống thận mãn tính có thể có hội chứng Fanconi dẫn đến bệnh còi xương hay
nhuyễn xương ở người lớn. Các yếu tố mở đường là liều thuốc tích tụ cao và nhỏ
tuổi (đặc biệt là dưới 3 tuổi). Do đó, chức năng cầu thận và ống thận phải được
đánh giá và kiểm tra trước khi bắt đầu điều trị, trong và sau khi điều trị.
Trong quá trình điều trị lâu dài với
ifosfamide, cần thiết phải có bài niệu đầy đủ và kiểm tra đầy đủ chức năng thận.
Điều này phải được áp dụng đặc biệt ở trẻ em. Trong trường hợp đã có bệnh thận,
nếu vẫn phải tiếp tục điều trị với ifosfamide thì tổn thương thận bất hồi phục
có thể xảy ra. Khi đó, đòi hỏi phải có sự đánh giá thận trọng giữa nguy cơ và
lợi ích của việc dùng thuốc.
Cũng cần phải thận trọng ở bệnh nhân đã bị cắt
thận một bên, những bệnh nhân có chức năng thận bị tổn thương và ở bệnh nhân đã
được điều trị trước đó với những thuốc độc cho thận (như cisplatin). Ở các bệnh
nhân này, tần suất và độ nặng của độc tính đối với tủy-thận và não sẽ tăng lên.
Hệ thần kinh trung ương :
Trong 10-20% trường hợp, bệnh não xảy ra và
phát triển trong vòng vài giờ đến vài ngày sau khi bắt đầu điều trị. Yếu tố nguy
cơ gồm tình trạng sức khỏe kém, tổn thương chức năng thận (creatinin > 1,5
mg/dl), điều trị trước đó bằng các thuốc độc đối với thận (như cisplatin) và tắc
nghẽn sau thận (như các khối u vùng chậu). Các yếu tố nguy cơ khác có thể có là
lớn tuổi, tiền căn nghiện rượu, albumin hay hydrogen carbonate huyết thấp, rối
loạn chức năng gan hay điều trị đồng thời các thuốc chống nôn ói với liều cao.
Triệu chứng phổ biến nhất của bệnh não là tình trạng buồn ngủ có thể tiến triển
tới ngủ gà và hôn mê. Các triệu chứng khác có thể là yếu mệt, hay quên, loạn
thần trầm cảm, mất định hướng, vật vã, lú lẫn, ảo giác, triệu chứng tiểu não,
tiểu không tự chủ và co giật. Các bệnh não thường có thể hồi phục và tự biến mất
trong vòng vài ngày sau liều ifosfamide cuối. Diễn tiến nặng hiếm gặp, và tử
vong chỉ thấy trong các trường hợp riêng lẻ có liên quan với việc dùng thuốc
liều rất cao. Với chế độ điều trị phân liều nhỏ, các bệnh não ít gặp hơn và ít
nặng hơn.
Lưu ý : Do độc tính trên hệ thần kinh trung
ương của ifosfamide, bệnh nhân phải được theo dõi kỹ. Trong trường hợp có biến
cố bệnh não, phải ngưng điều trị với ifosfamide và không được điều trị trở lại.
Trong trường hợp có bệnh não do ifosfamide, nếu được nên ngưng dùng các thuốc có
tác dụng lên hệ thần kinh trung ương (như thuốc chống nôn, thuốc an thần, gây
ngủ hay kháng histamine) hoặc phải dùng với thận trọng đặc biệt.
Các tác dụng phụ khác :
Buồn nôn và ói mửa là các tác dụng phụ phụ
thuộc vào liều. Các dạng trung bình đến nặng có thể thấy trong khoảng 50% trường
hợp. Một tác dụng phụ thường gặp khác là rụng tóc có thể hồi phục được, xảy ra
trong 100% bệnh nhân, phụ thuộc vào liều và thời gian điều trị. Do tác động của
cơ chế alkyl hóa, Holoxan có thể gây ra tổn thương phần nào bất hồi phục sự tạo
tinh trùng hay giảm tinh trùng kéo dài, còn trên phụ nữ là gây rối loạn phóng
noãn bất hồi phục, ít gặp hơn, dẫn đến vô kinh và giảm nồng độ nội tiết tố sinh
dục nữ.
Ngoài ra, có thể có :
- Xơ hóa phổi mô kẽ mãn tính trong một số
trường hợp riêng lẻ. Phù phổi do cơ chế dị ứng - độc tính được báo cáo trong một
số trường hợp.
- SIADH (hội chứng bài tiết ADH không thích
ứng, hội chứng Schwartz-Bartter) kèm hạ Natri máu và ứ nước gặp trong một một số
ca riêng lẻ. Hạ kali máu được ghi nhận trong một số ca.
- Viêm tụy được ghi nhận trong một số trường
hợp riêng lẻ.
- Viêm da và viêm niêm mạc hiếm gặp.
- Phản ứng quá mẫn cảm hiếm gặp, có một số
trường hợp riêng lẻ dẫn đến choáng.
- Giảm thị lực và có cơn chóng mặt trong một số
trường hợp hiếm.
Tăng men gan và/hoặc nồng độ bilirubin thỉnh
thoảng cũng có thể xảy ra. Chán ăn, tiêu chảy, táo bón, viêm tĩnh mạch hay sốt
có thể gặp nhưng hiếm hơn. Bệnh đa dây thần kinh, viêm phổi, giảm thị lực hay
tăng phản ứng với tia xạ cũng thấy riêng lẻ. Có các báo cáo ghi nhận có loạn
nhịp trên thất hay loạn nhịp thất, thay đổi đoạn ST và suy tim sau khi dùng
ifosfamide liều rất cao và/hoặc sau khi đã điều trị trước đó hay điều trị đồng
thời với anthracyclines. Trong tình huống này, một lần nữa cần nhấn mạnh sự cần
thiết phải theo dõi đều đặn điện giải, và đặc biệt thận trọng khi điều trị các
bệnh nhân có tiền sử bệnh tim. Như điều trị thuốc độc tế bào nói chung, đặc biệt
là các thuốc alkyl hóa, điều trị ifosfamide có nguy cơ bị các u bướu thứ phát
như là di chứng muộn.
LIỀU LƯỢNG và CÁCH DÙNG
Chỉ có các bác sĩ có kinh nghiệm điều trị trong
khoa ung thư mới được ghi đơn điều trị thuốc này. Liều phải được điều chỉnh
thích ứng cho từng bệnh nhân. Trong điều trị một thuốc ở người lớn, cách điều
trị phổ biến nhất được dựa trên việc phân thành liều nhỏ. Khi không có đơn chỉ
định riêng cho từng cá nhân, các khuyến cáo sau có thể dùng như là nguyên tắc
chỉ đạo.
Thông thường, Holoxan được cho tiêm tĩnh mạch
các phân liều 1,2-2,4 g/m2 diện tích cơ thể (cho đến 60 mg/kg thể
trọng) hàng ngày trong 5 ngày liên tiếp (thời gian truyền khoảng 30-120 phút,
phụ thuộc vào thể tích). Holoxan cũng có thể được cho liều cao duy nhất thường
là truyền kéo dài 24 giờ. Liều thông thường là 5 g/m2 diện tích cơ
thể (125 mg/kg thể trọng) và không được vượt quá 8 g/m2 diện tích cơ
thể (200 mg/kg thể trọng) cho mỗi đợt. Liều cao duy nhất có thể gây ra độc tính
cao hơn đối với huyết học, thận-niệu và thần kinh trung ương.
Cần cẩn thận bảo đảm nồng độ ifosfamide của
dung dịch không được vượt quá 4%.
Trong điều trị phối hợp với các thuốc kìm tế
bào khác, liều phải được điều chỉnh cho thích ứng với kiểu phác đồ điều trị.
Lưu ý :
Do có độc tính lên hệ niệu, trên nguyên tắc
ifosfamide nên được dùng phối hợp với mesna. Các độc tính khác và hiệu quả của
ifosfamide không bị mesna làm ảnh hưởng. Nếu viêm bàng quang kèm tiểu máu vi thể
và đại thể xuất hiện trong quá trình điều trị, nên ngưng trị liệu cho đến khi
bệnh nhân được hồi phục.
Do hiệu quả kìm tế bào của ifosfamide xảy ra
chỉ sau khi được hoạt hóa ở gan, sẽ không có nguy hiểm làm tổn thương mô khi
dùng thuốc không phải bằng đường tĩnh mạch.
Cách cho thuốc và thời gian điều trị :
Các đợt điều trị có thể được lặp lại mỗi 3-4
tuần. Khoảng cách giữa các đợt sẽ phụ thuộc vào công thức máu và vào sự hồi phục
khỏi các phản ứng bất lợi và tác dụng phụ.
Nên duy trì thuốc bảo vệ đường niệu mesna
(Uroprotector, Uromitexan) như đã hướng dẫn.
Cần xét nghiệm đều đặn công thức máu, chức năng
thận, tổng phân tích nước tiểu và cặn lắng nước tiểu.
Cần chỉ định dùng thuốc chống nôn ói kịp thời,
qua đó lưu ý ảnh hưởng lên hệ thần kinh trung ương khi dùng phối hợp với
Holoxan.
Pha chế dung dịch tiêm :
Việc sử dụng Holoxan phải luôn luôn có sự an
toàn cẩn trọng như trong sử dụng các thuốc độc tế bào khác.
Để pha chế dung dịch tiêm đẳng trương 4%, thêm
nước để tiêm vào nguyên chất với tỷ lệ 1 g thuốc bột Holoxan pha trong 25 ml
nước cất pha tiêm.
Thuốc sẽ hòa tan nhanh nếu lắc mạnh lọ thuốc
0,5 đến 1 phút sau khi thêm nước để tiêm vào. Nếu thuốc không hòa tan ngay và
hoàn toàn, nên để dựng đứng lọ thuốc trong vài phút. Dung dịch pha chế có thể
giữ được khoảng 24 giờ nếu bảo quản ở nhiệt độ không quá 8oC (trong
tủ lạnh). Dung dịch Holoxan để truyền tĩnh mạch trong một thời gian ngắn (khoảng
30-120 phút) được pha chế bằng cách pha dung dịch trên với 250 ml dung dịch
Ringer hay dung dịch glucose 5% hay nước muối sinh lý. Để truyền lâu hơn trong 1
đến 2 giờ, nên pha loãng với 500 ml dung dịch Ringer hay dung dịch glucose 5%
hay nước muối sinh lý. Để truyền liên tục 24 giờ liều cao Holoxan, dung dịch
Holoxan pha chế, chẳng hạn 5 g/m2, phải được pha loãng với 3 lít dung
dịch glucose 5% và/hoặc nước muối sinh lý.
Lưu ý đặc biệt :
Do tác động alkyl hóa, ifosfamide là một chất
gây đột biến và cũng có khả năng gây ra ung thư. Do đó, cần tránh tiếp xúc với
da và niêm mạc.
BẢO QUẢN