Trung hòa acid chlohydric
Tác dụng nhanh : sau khi uống một vài
phút pH dạ dày đã được nâng lên đáng kể (từ khoảng 1 lên xấp xỉ 2) nhờ một lượng
vừa phải calcicarbonate. Do đó thuốc làm giảm nhanh các triệu chứng.
Tác dụng kéo dài : trong khoảng 3 giờ và
pH được nâng dần lên tới gần 4 nhờ các allantoinate tác dụng như một hệ đệm có
dung tích lớn.
Thuốc có khả năng :
- Điều chỉnh thời gian tống thức ăn từ dạ dày
xuống tá tràng một cách hợp lý do làm giảm các co bóp quá mức gây ra bởi sự tăng
tiết acid, giúp thức ăn ở lại dạ dày lâu hơn tạo điều kiện cho thuốc có thời
gian trung hòa dịch vị dư thừa.
- Ulfon bám dính vào niêm mạc nên thuốc lưu lại
và tác dụng kéo dài tại dạ dày.
Tác dụng làm liền sẹo ổ loét và bảo vệ niêm
mạc
- Các allantoinate gắn mạnh vào glucoprotein
của lớp nhầy niêm mạc đặc biệt là gắn với protein ở ổ loét bằng các liên kết
cộng hóa trị tạo thành một màng bảo vệ giúp ổ loét liền sẹo nhanh.
- Thuốc có khả năng hấp thu các muối mật trào
ngược từ tá tràng vào dạ dày.
- Tăng cường tác dụng của prostaglandin E2
làm giảm tiết pepsinogen và tăng bài tiết dịch kiềm.
Có thể sử dụng điều trị kéo dài mà không gây
tăng nhôm trong máu và nước tiểu do thuốc không hấp thu qua đường tiêu hóa.
DƯỢC ĐỘNG HỌC
- Dùng kéo dài 4 gói/ngày ở các trường hợp
thông thường không gây ra nguy cơ tăng nồng độ nhôm trong máu.
- Uống 4 gói Ulfon trong 30 ngày để điều trị
triệu chứng đau trong một loạt các rối loạn ở thực quản, dạ dày, tá tràng mà
không gây tăng nồng độ nhôm trong máu và nước tiểu. Xét nghiệm được thực hiện
theo phương pháp tìm độ đặc hiệu và độ nhậy theo các tiêu chuẩn của Worldwide
Interlaboratory Aluminium Control Programme cho thấy không có bất kỳ một nguy cơ
nào gây tích lũy nhôm khi dùng thuốc kéo dài.
- Những kết quả này cũng tương tự kết quả thu
được đối với Ulfon dạng bột trong điều kiện tương tự. Các kết quả này ngược lại
với các kết luận trong y văn với các muối nhôm khác, như thuốc kháng acid
có"hydroxide nhôm" làm tăng nồng độ nhôm trong máu và/hoặc kháng acid có
"phosphat nhôm" làm tăng nồng độ nhôm trong nước tiểu. Với Ulfon, nồng độ nhôm
trong máu cũng như trong nước tiểu không bị tăng lên, chứng tỏ không có hấp thu
nhôm ở đường tiêu hóa từ các dạng muối nhôm có trong nhũ dịch Ulfon (Weber và
Berstad đã chứng minh rằng theo dõi sự bài tiết của nhôm qua nước tiểu là một
phương pháp nhạy nhất để xác định sự hấp thu-thậm chí là rất ít-của nhôm qua lọc
cầu thận.
- Những kết quả này trở nên quan trọng hơn khi
Salusky và cộng sự (1991) chứng minh rằng thậm chí với một liều nhỏ nhôm được
xem một cách rõ ràng là không gây độc, cũng đã dẫn đến gây tích lũy dần hàm
lượng nhôm.
- Kết luận : Theo Eur. J. Clin. Chem.
Biochem 1996, 34, 609-12 "không có sự hấp thu ở đường tiêu hóa hoặc bài tiết ra
nước tiểu của nhôm sau khi dùng hai loại kháng acid có chứa hợp chất
allantoinate ở các bệnh nhân có chức năng thận bình thường". Chứng tỏ không có
sự hấp thu nhôm trên lâm sàng.
CHỈ ĐỊNH
Thận trọng khi phối hợp :
- Kháng khuẩn (các cyclines, fluoro-quinolones,
thuốc kháng lao : éthambutol, và isoniazide, lincosamides), kháng histamine H2,
atenolol, propranolol, chloroquine, diflunisal, digoxine, diphosphonates, muối
sắt, fluorure de sodium, glucocorticoides (prednisolone và dexamethasone),
indometacine, kayexalate, ketoconazole, lansoprazole, thuốc an thần kinh, các
phénothiazines, các pénicilline, phosphore (cung cấp), thyroxine.
Người ta nhận thấy rằng khi dùng đồng thời các
thuốc này bằng đường uống, sự hấp thu thuốc ở đường tiêu hóa sẽ bị giảm đi. Để
đề phòng, khi dùng các thuốc kháng acide phải cách khoảng xa với các thuốc khác
tối thiểu trên 2 giờ, đối với fluoro-quinolones, thời gian là 4 giờ.
Lưu ý khi phối hợp :
- Salicylate : tăng bài tiết các salicylate ở
thận do sự kiềm hóa nước tiểu.
TÁC DỤNG NGOẠI Ý
- Điều trị triệu chứng : khi đau, nóng,
rát bỏng, ợ chua, uống mỗi lần 1 gói, ngày 3-4 lần.
- Điều trị ổ loét : ngày 4 lần, mỗi lần
1 gói sau mỗi bữa ăn và trước khi đi ngủ uống 1 gói. Dùng kéo dài trong 4-5
tuần.
BẢO QUẢN