Rovacor có hoạt chất chính là lovastatin, có
tên hóa học là acid butanoic 2-methyl-1, 2, 3, 7, 8,
8a-hexahydro-3,7-dimethyl-8-[2-(tetrahydro-4-hydroxy-6-oxo-2H-pyran-2-yl)-ethyl]-1-naphthalenyl
ester, [1S-(1a(R'), 3a, 7b, 8b (2S', 4S'), 8ab)]. Công thức phân tử C24H36O5
và phân tử lượng là 404,6.
DƯỢC LỰC
Cơ chế tác dụng :
Sau khi được hấp thu qua đường tiêu hóa,
lovastatin được thủy phân ngay lập tức tạo thành acid hydroxy dạng mạch hở, là
chất ức chế cạnh tranh của men khử HGM-CoA. Enzyme này xúc tác cho quá trình
chuyển đổi HMG-CoA thành mevalonate, là bước giới hạn chủ yếu trong quá trình
tổng hợp cholesterol.
Nghiên cứu dược lực học :
Lovastatin ức chế hoạt động của men khử HGM-CoA
tùy theo liều. Nó hoạt động cạnh tranh với HGM-CoA để có men này.
Thuốc làm giảm tổng hợp cholesterol cả in vivo
lẫn in vitro và làm giảm đáng kể cholesterol và cholesterol lipoprotein trọng
lượng phân tử thấp trong huyết tương ở động vật hơn là đối với loài gặm nhấm có
lipid máu bình thường hoặc tăng cholesterol máu. Nghiên cứu dược động học ở
người tình nguyện khỏe mạnh chứng tỏ lovastatin ở liều 12,5 đến 100 mg mỗi ngày
làm giảm đáng kể nồng độ cholesterol toàn phần trong huyết thanh mà không làm
thay đổi đáng kể nồng độ cholesterol lipoprotein trọng lượng phân tử cao,
cholesterol lipoprotein trọng lượng phân tử rất thấp và nồng độ triglyceride
huyết thanh.
Lovastatin làm giảm 25-30% nồng độ
apolipoprotein B ở người tình nguyện khỏe mạnh uống 6,25 đến 50 mg mỗi ngày hai
lần và giảm 23-33% nồng độ apolipoprotein B ở bệnh nhân tăng lipid máu uống 20
đến 40 mg mỗi ngày hai lần, người ta cũng nhận thấy có một lượng tăng ít khoảng
10% nồng độ apolipoprotein AI và AII khi cho những liều tương tự ở bệnh nhân
cùng gia đình dị hợp tử hoặc khác gia đình bị chứng tăng cholesterol máu.
Lovastatin làm tăng số thụ thể lipoprotein
trọng lượng phân tử thấp ở gan và làm tăng tỷ lệ dị hóa phân đoạn lipoprotein
trọng lượng phân tử thấp.
Lovastatin không làm suy yếu chức năng vỏ
thượng thận ở bất cứ mức độ nào sau một thời gian ngắn sử dụng lovastatin ở
người tình nguyện khỏe mạnh và bệnh nhân tăng cholesterol máu.
DƯỢC ĐỘNG HỌC
Hấp thu :
Lovastatin được hấp thu qua đường tiêu hóa.
Thuốc trải qua chuyển hóa lần đầu ở gan, là nơi tác động đầu tiên. Do đó sinh
khả dụng của thuốc trong vòng tuần hoàn lớn là thấp và thay đổi. Độ hấp thu của
lovastatin, được ước lượng liên quan đến liều tiêm tĩnh mạch trung bình khoảng
30% liều uống. Độ hấp thu giảm khoảng 30% khi uống lúc dạ dày rỗng so với khi có
thức ăn. Khả năng gắn với protein huyết tương cao (95%).
Chuyển hóa sinh học :
Lovastatin bị thủy phân ở gan thành chất chuyển
hóa acid b-hydroxy
có hoạt tính. Còn có 3 chất chuyển hóa khác cũng được phân lập.
Thời gian bán hủy : 3 giờ.
Thời gian đạt nồng độ đỉnh : 2-4 giờ.
Thời gian tác động : 4 đến 6 tuần sau
khi ngưng điều trị liên tục.
Thải trừ : Lovastatin được thải chủ yếu
qua phân là phần thuốc chủ yếu không hấp thụ chiếm 83% liều dùng theo đường
uống. 10% thuốc được thải trừ qua đường thận.
DƯỢC LÝ LÂM SÀNG
- Đánh giá lâm sàng mở rộng của Lovastatin
(EXCEL) : Lovastatin được so sánh với giả dược ở 8245 bệnh nhân tăng cholesterol
máu (cholesterol toàn phần 240-300 mg/dl, cholesterol lipoprotein trọng lượng
phân tử thấp (> 160 mg/dl) trong một nghiên cứu song song, mù đôi, ngẫu nhiên.
Tất cả các thay đổi về các thông số lipid ở các bệnh nhân điều trị lovastatin có
liên quan đến liều và đặc biệt khác hẳn giả dược (p < 0,001). Các kết quả này
duy trì trong suốt quá trình nghiên cứu.
Lovastatin gây giảm triglyceride đáng kể từ
trung bình 10% ở liều 20 mg một lần mỗi ngày cho tới 19% ở liều 40 mg hai lần
mỗi ngày. Nhóm giả dược có mức tăng trung bình 4%. Những bệnh nhân không có thay
đổi hoặc tăng triglyceride chiếm 54% nhóm giả dược và 37% (20 mg mỗi ngày một
lần) đến 25% (40 mg hai lần mỗi ngày) của nhóm lovastatin.
- Lovastatin với liều trung bình 36 mg/ngày
trong 16 tuần làm giảm cholesterol toàn phần và cholesterol lipoprotein trọng
lượng phân tử thấp lần lượt chiếm 21+/-11% và 29+/-11% ở 331 bệnh nhân tăng
cholesterol máu bị xơ vữa động mạch vành. Lovastatin làm chậm tiến trình xơ vữa
động mạch vành và ngăn chặn sự phát triển của tổn thương động mạch vành mới.
- Lovastatin hữu hiệu hơn pravastatin trong
việc giảm cholesterol toàn phần và cholesterol lipoprotein trọng lượng phân tử
thấp trong một thử nghiệm ngẫu nhiên, mù đôi và có kiểm soát đối với 672 bệnh
nhân tăng cholesterol máu.
- Lovastatin làm giảm cholesterol toàn phần và
cholesterol lipoprotein trọng lượng phân tử thấp lần lượt 20% và 28% và làm tăng
8% cholesterol lipoprotein trọng lượng phân tử cao trong thử nghiệm kéo dài 12
tuần trên 182 bệnh nhân mới bị tăng cholesterol máu. Kết quả được cho là tốt hơn
so với dùng gemfibrozil.
Tính sinh ung thư / đột biến :
Ở thú vật thí nghiệm, lovastatin chứng tỏ làm
tăng tần suất các khối u tế bào gan và u tuyến và u nhú màng nhầy không tuyến
của dạ dày. Tuy nhiên, điều này xảy ra ở liều gấp 3-4 lần liều tối đa khuyến cáo
cho người. Các thử nghiệm khác nhau về đột biến gen của lovastatin cho thấy
thuốc không gây đột biến gen.
CHỈ ĐỊNH
Tổng quát :
Lovastatin có thể làm tăng nồng độ creatine
phosphokinase và transaminase huyết thanh. Điều này cần được xem xét trong các
chẩn đoán phân biệt đau ngực ở bệnh nhân điều trị lovastatin.
Rovacor ít hữu hiệu ở bệnh nhân tăng
cholesterol máu cùng gia đình đồng hợp tử hiếm, có thể do các bệnh nhân này
không có thụ thể lipoprotein trọng lượng phân tử thấp có chức năng. Rovacor có
thể làm tăng transaminase huyết thanh ở những bệnh nhân đồng hợp tử này.
Bệnh nhân được yêu cầu báo cáo ngay các triệu
chứng đau cơ, nhạy đau hoặc yếu không giải thích được đặc biệt có kèm theo sốt.
Cảnh báo :
- Các bệnh nhân là người lớn uống lovastatin ít
nhất 1 năm được báo cáo có gia tăng đáng kể (đến hơn 3 lần mức trên của giới hạn
bình thường) transaminase huyết thanh. Do vậy, các xét nghiệm về chức năng gan
cần được thực hiện trong suốt quá trình điều trị lovastatin. Cần theo dõi
transaminase huyết thanh trước khi bắt đầu điều trị, mỗi 6 tuần trong suốt 3
tháng đầu tiên, mỗi 8 tuần trong suốt thời gian còn lại trong năm đầu, và định
kỳ sau đó.
- Thuốc nên được dùng thận trọng đối với những
bệnh nhân uống rượu nhiều và/hoặc có tiền sử bệnh gan.
- Điều trị lovastatin nên được tạm ngưng ở bệnh
nhân có tình trạng nặng, cấp tính gợi ý bệnh cơ hay có nguy cơ tiến triển suy
thận thứ phát thành globin cơ niệu kịch phát, nhiễm khuẩn cấp nặng, hạ huyết áp,
trải qua đại phẫu, chấn thương, rối loạn chuyển hóa nặng, rối loạn nội tiết và
rối loạn chất điện giải và các cơn động kinh không kiểm soát được.
Sử dụng trong nhi khoa :
Các nghiên cứu đầy đủ về mối quan hệ giữa tuổi
tác và tác dụng của chất ức chế HMG-CoA ở trẻ em chưa được tiến hành. Tuy nhiên,
không khuyến cáo sử dụng cho trẻ em dưới 2 tuổi vì cholesterol cần cho sự phát
triển bình thường.
LÚC CÓ THAI và LÚC NUÔI CON
BÚ
- Chất chống đông, dẫn xuất coumarine hoặc
indandione : Sử dụng đồng thời với chất ức chế men khử HMG-CoA có thể làm
tăng thời gian chảy máu hoặc thời gian prothrombin ; cần theo dõi thời gian
prothrombin ở bệnh nhân dùng chất ức chế men khử HMG-CoA cùng với chất chống
đông.
- Cyclosporin hoặc Erythromycin hoặc
Gemfibrozil hoặc thuốc ức chế miễn dịch hoặc Niacin : Sử dụng đồng thời với
lovastatin có thể liên quan với nguy cơ gia tăng chứng globin cơ niệu kịch phát
và suy thận cấp, điều trị kết hợp chất ức chế men khử HMG-CoA với gemfibrozil,
chất ức chế miễn dịch hoặc niacin nên theo dõi cẩn thận để phát hiện các triệu
chứng bệnh cơ hoặc globin cơ niệu kịch phát.
TÁC DỤNG NGOẠI Ý
Tiêu hóa : Đầy hơi, tiêu chảy, táo bón
và nôn là những tác dụng ngoại ý thường được gặp nhất với lovastatin. Các tác
dụng phụ trên đường tiêu hóa khác như đau bụng, co thắt, chứng khó tiêu, ợ nóng
và rối loạn vị giác.
Cơ xương : Bệnh cơ, đặc trưng bằng đau
cơ, yếu cơ. Cũng có thể xảy ra globin cơ niệu kịch phát kèm suy thận cấp. Tăng
nồng độ isozyme cơ của creatine phosphokinase trong huyết thanh không có triệu
chứng có thể xảy ra ở 11% bệnh nhân sử dụng lovastatin.
Mắt : Có thể xảy ra nhìn mờ. Đục thủy
tinh thể có thể nặng lên trong quá trình điều trị lovastatin.
Ngoài ra : Có các tác dụng ngoại ý khác
như nhức đầu, chóng mặt, phát ban/ngứa, bất lực và mất ngủ.
LIỀU LƯỢNG và CÁCH DÙNG
Liều khuyến cáo cho người lớn :
Liều khởi đầu khuyến cáo là 20 mg mỗi ngày một
lần vào lúc ăn tối. Khoảng liều khuyến cáo thay đổi từ 10-80 mg/ngày được cho
một lần duy nhất hay chia làm nhiều lần.
Liều tối đa khuyến cáo là 80 mg/ngày. Nên điều
chỉnh liều sau mỗi 4 tuần hoặc lâu hơn. Liều dùng nên được điều chỉnh riêng cho
từng người tùy thuộc đáp ứng của bệnh nhân. Rovacor nên được dùng với bữa ăn.
Nếu dùng mỗi ngày một lần thì nên uống thuốc vào bữa cơm tối.
Đối với bệnh nhân đang điều trị thuốc ức chế
miễn dịch, lovastatin nên được bắt đầu với liều 10 mg/ngày và không được quá 20
mg/ngày. Liều khuyến cáo cho phụ nữ đã mãn kinh bị tăng cholesterol máu mức độ
nhẹ đến vừa là 10 mg/ngày.
Bệnh nhân suy thận :
Ở bệnh nhân suy thận nhẹ đến vừa không cần điều
chỉnh liều. Tuy nhiên trong trường hợp suy thận nặng không được dùng quá 20
mg/ngày.
BẢO QUẢN