Hấp thu :
Sau khi uống thuốc, mycophénolate mofétil được
hấp thu nhanh và phần lớn qua đường tiêu hóa, sau đó được chuyển hóa thành MPA
là chất chuyển hóa có hoạt tính. Dùng bằng đường uống, mycophénolate mofétil
không được phát hiện trong huyết tương.
Ảnh hưởng của thức ăn : Cmax giảm
còn 77%.
Dạng viên nang và viên nén cho nồng độ Cmax
khác nhau, nhưng có AUC (diện tích dưới đường cong) tương đương nhau.
Độ sinh khả dụng trung bình của mycophénolate
mofétil dùng đường uống, tính theo AUC của AMP, chiếm 94% so với sinh khả dụng
của mycophénolate mofétil khi dùng đường tĩnh mạch.
Phân phối :
Do ảnh hưởng của chu kỳ gan-ruột, thường quan
sát thấy có một đỉnh thứ nhì của AMP sau khi uống thuốc từ 6 đến 12 giờ. Diện
tích dưới đường cong (AUC) của MPA giảm khoảng 40% khi mycophénolate mofétil
được dùng đồng thời với cholestyramine (mỗi lần 4 g, ngày 3 lần), điều này cho
thấy ảnh hưởng quan trọng của chu kỳ gan-ruột.
Ở những nồng độ đáng kể về lâm sàng, có 97% MPA
gắn kết với albumine huyết tương. Ở những nồng độ MPAG được quan sát ở bệnh nhân
ghép thận đã được ổn định, có 82% MPAG gắn kết với albumine huyết tương. Ở những
nồng độ MPAG cao hơn, chẳng hạn ở những nồng độ được 1quan sát ở bệnh nhân có
mảnh ghép chậm hoạt động hay ở bệnh nhân bị suy thận nặng, tỉ lệ gắn kết in
vitro chỉ có 62%.
Chuyển hóa :
MPA chủ yếu được chuyển hóa nhờ men glucuronyl
transférase thành glucuronide phénolique MPA (MPAG), chất này không có hoạt tính
dược lý.
Đào thải :
Khó xác định được thời gian bán hủy (T1/2) của
MPA do bị ảnh hưởng của chu kỳ gan-ruột. Thời gian bán hủy biểu kiến vào khoảng
16 đến 18 giờ. Khoảng 93% liều dùng được đào thải qua thận, phần lớn dưới dạng
MPAG, và khoảng 5,5% được đào thải qua phân.
Dược động trong một số trường hợp đặc biệt :
Trong một nghiên cứu được thực hiện với liều
duy nhất (6 người mỗi nhóm), AUC của MPA ở bệnh nhân bị suy thận nặng mạn tính
(tốc độ lọc dưới 25 ml/phút/1,73 m2) cao hơn khoảng 28-75% so với AUC
ở người khỏe mạnh hay ở bệnh nhân bị suy thận nhẹ hơn. Việc tăng trung bình của
AUC của MPA ở bệnh nhân suy thận nặng có thể so sánh với khi tăng liều
mycophénolate mofétil đến 2-3 g/ngày. Ở những bệnh nhân có mảnh ghép chậm hoạt
động, AUC0-12 trung bình của MPA có thể so sánh với ở những bệnh nhân
được ghép cơ quan có tiến triển bình thường.
Suy gan không ảnh hưởng đến dược động của
thuốc. Chưa có nghiên cứu dược động ở bệnh nhân cao tuổi.
CHỈ ĐỊNH
Cũng như đối với tất cả các bệnh nhân được dùng
thuốc ức chế miễn dịch và thường dùng dưới dạng phối hợp, những bệnh nhân dùng
CellCept có nguy cơ bị u lymphô bào và các loại bướu ác tính khác, nhất là ở da.
Nguy cơ này dường như có liên quan nhiều đến liều dùng và thời gian điều trị hơn
là do việc sử dụng một loại thuốc được kê toa.
Việc ức chế quá mức hệ thống miễn dịch cũng có
thể làm cơ thể dễ mắc các bệnh nhiễm trùng.
Ở những bệnh nhân dùng CellCept hay các thuốc
ức chế miễn dịch khác, thấy có tăng các bệnh tăng sinh tế bào lymphô hay u
lymphô bào ở 0,6-1% bệnh nhân trong một nghiên cứu có kiểm soát về việc dự phòng
phản ứng thải ghép (0-0,3% ở nhóm chứng).
Trong 3 công trình nghiên cứu có kiểm soát về
việc dự phòng phản ứng thải ghép, một số trường hợp tử vong (tỉ lệ tương tự nhau
là < 1%) do bị các bệnh nhiễm trùng đã được ghi nhận ở những bệnh nhân được dùng
thuốc ức chế miễn dịch, ở nhóm dùng CellCept và cả ở nhóm chứng. Dưới 1,5% bệnh
nhân dùng CellCept để dự phòng phản ứng thải ghép bị giảm bạch cầu trung tính
nặng (ANC < 500/ml).
Cần theo dõi số lượng bạch cầu trung tính ở
bệnh nhân dùng CellCept.
Trường hợp giảm bạch cầu trung tính (AUC <
1,3x103/ml),
phải ngưng hoặc giảm liều CellCept, ngoài ra cần làm các test chẩn đoán và điều
trị cho bệnh nhân nếu cần.
Một vài trường hợp hiếm ghi nhận có xuất huyết
và thủng dạ dày-ruột ở bệnh nhân được điều trị bằng CellCept. Do việc dùng
CellCept có liên quan đến việc tăng những tác dụng ngoại ý trên đường tiêu hóa
như loét dạ dày-ruột, xuất huyết, thủng... phải thận trọng khi dùng cho những
bệnh nhân đang có những bệnh ở đường tiêu hóa. Ở những bệnh nhân bị suy thận
nặng mạn tính (tốc độ lọc dưới 25 ml/phút/1,73 m2), dùng CellCept
liều duy nhất, thấy AUC của MPA và MPAG trong huyết tương tăng cao so với bệnh
nhân bị suy thận ít hơn hay ở người khỏe mạnh. Những bệnh nhân này không được
dùng liều hàng ngày trên 1 g x 2 lần, và phải đặc biệt theo dõi.
Ở những bệnh nhân có mảnh ghép chậm hoạt động,
AUC0-12 trung bình của MPA có thể so sánh với ở những bệnh nhân được
ghép cơ quan có tiến triển bình thường, trong khi đó AUC0-12 của MPAG
lại cao gấp 2-3 lần. Không cần phải chỉnh liều ở những bệnh nhân này, nhưng phải
tăng cường theo dõi.
Không nên dùng CellCept cùng lúc với
azathioprine. Do cholestyramine làm giảm đáng kể AUC của MPA, nên đặc biệt thận
trọng khi dùng đồng thời CellCept với các thuốc gây cản trở chu kỳ gan-ruột, do
có thể làm giảm hiệu lực của CellCept.
Test sinh học :
Nên kiểm tra công thức máu mỗi tuần một lần
trong tháng điều trị đầu, sau đó 2 tuần một lần trong 2 tháng kế và mỗi tháng
một lần trong những tháng tiếp theo trong năm điều trị đầu.
LÚC CÓ THAI và LÚC NUÔI CON
BÚ
Khó có thể xác định đâu là tác dụng ngoại ý của
một thuốc ức chế miễn dịch do có thể đó là những triệu chứng của một bệnh lý
tiềm ẩn nhất là do có nhiều thuốc được sử dụng đồng thời.
Các tác dụng ngoại ý thường gặp có liên quan
đến việc dùng CellCept là tiêu chảy, giảm bạch cầu, nhiễm trùng máu và nôn mửa.
Ngoài ra, một số nhiễm trùng có thể xảy ra với tần suất cao.
Dưới đây là một số tác dụng ngoại ý được ghi
nhận trong các khảo sát lâm sàng có kiểm soát ở những bệnh nhân được điều trị
bằng CellCept với tuần suất >= 10% và từ 3 đến 10% :
Tổng quát :
- >= 10% : nhiễm trùng máu (19,7%), nhiễm trùng
(20,9%), sốt (23,3%), suy nhược (16,1%), nhức đầu (21,1%), đau ngựcửc,4%), đau
bụng (27,6%), đau lưng (12,1%), đau không xác định được vị trí (33,0%).
- từ 3 đến 10% : nang, xuất huyết, thoát vị,
căng bụng, đau âm hộ, hội chứng cúm, phù mặt.
Máu và hệ bạch huyết :
- >= 10% : giảm bạch cầu (34,5%), giảm tiểu cầu
(10,1%), thiếu máu (25,8%), thiếu máu nhược sắc (11,5%).
- từ 3 đến 10% : tăng bạch cầu, tăng hồng cầu.
Hệ tiết niệu :
- >= 10% : nhiễm trùng đường tiểu (37,2%), hoại
tử ống thận (10,0%), huyết niệu (14,0%).
- từ 3 đến 10% : albumine niệu, thận ứ nước,
tiểu khó, đái dắt, rối loạn đường tiểu.
Tim mạch :
- >= 10% : cao huyết áp (32,4%).
- từ 3 đến 10% : huyết khối, hạ huyết áp (kể cả
hạ HA tư thế), rung nhĩ, nhịp tim nhanh, đánh trống ngực, giãn mạch.
Chuyển hóa :
- >= 10% : tăng đường huyết (12,4%), giảm
phosphate huyết (15,8%), phù nề, ngay cả ở ngoại biên (12,2%).
- từ 3 đến 10% : tăng một số thông số sinh học
: g-GT,
SGPT, SGOT, LDH, phosphatase kiềm, calcium, cholesterol, lipide, acide urique và
creatinine ; giảm nồng độ potassium, calcium, glucose và proteine trong máu,
nhiễm toan, mất nước, tăng thể tích máu, tăng cân.
Tiêu hóa :
- >= 10% : nôn (23,6%), mửa (13,6%), khó tiêu
(17,6%), tiêu chảy (36,1%), táo bón (17,6%), nhiễm Candida ở miệng (12,1%).
- từ 3 đến 10% : xuất huyết dạ dày-ruột, nhiễm
trùng, chán ăn, sưng nướu, viêm nứu, viêm thực quản, viêm dạ dày, viêm ruột, đầy
hơi, tắc ruột, rối loạn trực tràng, các giá trị bất thường của chức năng gan.
Hô hấp :
- >= 10% : nhiễm trùng (23,0%), khó thở
(17,3%), ho (15,6%).
- từ 3 đến 10% : viêm phổi, phù phổi, viêm phế
quản, viêm hầu, viêm xoang, viêm mũi.
Thần kinh :
- >= 10% : mất ngủ (11,8%), run rẩy (11,5%).
- từ 3 đến 10% : chóng mặt, dị cảm, tăng trương
lực, lo âu.
Da và phần phụ :
- >= 10% : nhiễm trùng Herpes simplex (20,0%).
- từ 3 đến 10% : zona, loét da, ung thư da, bầm
máu, mụn trứng cá, ngoại ban, rậm lông, ra mồ hôi nhiều.
Nội tiết :
- từ 3 đến 10% : tiểu đường, rối loạn chức năng
tuyến giáp.
Cơ, xương :
- từ 3 đến 10% : đau khớp, đau cơ, vọp bẻ bắp
chân, nhược cơ.
Cơ quan cảm giác :
- từ 3 đến 10% : viêm kết mạc, giảm thị lực.
Trong các nghiên cứu lâm sàng có kiểm soát
trong dự phòng thải ghép, liều hàng ngày của mycophénolate mofétil 2 g/ngày được
dung nạp tốt hơn so với liều 3 g/ngày. Đối chiếu với nhóm bệnh nhân dùng
azathioprine hay giả dược thấy nhóm bệnh nhân dùng CellCept có tần suất bị tiêu
chảy, nôn mửa, nhiễm trùng máu và nhiễm trùng tiểu cao hơn. Ngoài ra, giảm bạch
cầu cũng thường xảy ra hơn ở nhóm dùng CellCept so với nhóm chứng, và thường xảy
ra ở nhóm dùng liều 3 g/ngày hơn.
Trong các nghiên cứu dự phòng thải ghép, các
nhiễm trùng xâm lấn do cytomegalovirus cũng thường được quan sát ở những bệnh
nhân dùng liều 3 g/ngày so với nhóm dùng liều 2 g/ngày và nhóm dùng các thuốc
đối chứng.
Khi dự phòng phản ứng thải ghép bằng CellCept
hay một thuốc đối chứng và được phối hợp với thuốc ức chế miễn dịch khác, nguy
cơ nhiễm trùng dẫn đến tử vong xảy ra đồng đều ở cả hai nhóm với tỉ lệ < 1%.
Giảm bạch cầu trung tính nặng (ANC 500/ml)
xảy ra ở < 1,5% bệnh nhân dùng CellCept để dự phòng thải ghép. Trong các nghiên
cứu có kiểm soát về dự phòng thải ghép, tai biến xảy ra các bệnh lý ác tính thấp
và tương tự với những tai biến được liệt kê trong y văn đối với những bệnh nhân
được ghép thận dị thân. Tai biến gây tăng sinh tế bào lymphô và u lymphô bào hơi
cao ở nhóm bệnh nhân dùng CellCept (khoảng 1%) so với ở nhóm chứng (0-0,3%).
LIỀU LƯỢNG và CÁCH DÙNG