Bromocriptin hoạt động như là chủ vận thể
dopamine ở vùng dưới đồi và tuyến yên để giảm sự tăng tiết prolactin, tái khởi
động chu kỳ kinh nguyệt bình thường và điều hòa rối loạn các chức năng sinh sản
kèm theo prolactin huyết cao, phòng ngừa và chặn đứng việc tiết sữa. Ở các bệnh
nhân to đầu chi, bromocriptin làm giảm nồng độ quá cao của hormon tăng trưởng
qua đó ảnh hưởng thuận lợi đến các triệu chứng lâm sàng và sự dung nạp glucose.
Nhờ vào hoạt tính kích thích tiết dopamin, bromocriptin làm tăng giải phóng
dopamine nội sinh từ tế bào thần kinh tiền synap còn hoạt động và vân đen, đồng
thời cũng kích thích chọn lọc đến các thụ thể hậu synap. Kết quả là : thuốc có
hiệu quả trong điều trị bệnh Parkinson. Bromocriptin có thể được dùng một mình
cho những bệnh nhân dưới 60 tuổi vừa được chẩn đoán mắc bệnh Parkinson ở giai
đoạn đầu, để tránh phản ứng phụ có khả năng xuất hiện về sau (hiện tượng
"On-Off") của các liệu pháp thay thế. Tuy nhiên ở những bệnh nhân này, các phản
ứng phụ của bromocriptin có khả năng cao hơn (buồn nôn, lú lẫn và giảm huyết
áp). Bromocriptin có thể được kết hợp với các thuốc kháng Parkinson khác (ví dụ
: levodopa và chất ức chế decarboxylase).
Bromocriptin nên được chia liều nhỏ để điều trị
cho mỗi bệnh nhân với liều có hiệu lực tối thiểu tùy theo sự đáp ứng điều trị.
Nên tăng liều một cách dần dần (phác đồ "chậm và thấp") để tránh phản ứng phụ
"hiện tượng ngừng thuốc đột ngột" và loạn vận động.
Sự kết hợp điều trị với levodopa thường cho
phép đồng thời giảm liều levodopa và chất ức chế decarboxylase.
CHỈ ĐỊNH
Khoa nội tiết :
Các rối loạn chu kỳ kinh và vô sinh phụ thuộc
prolactin (kèm theo prolactin huyết bình thường hoặc cao), vô kinh (có hay không
có tiết đa sữa), thiểu kinh, suy pha hoàng thể và tăng prolactin huyết do thuốc
(thuốc hướng tâm thần và cao huyết áp).
Vô sinh không phụ thuộc prolactin :
Hội chứng đa u nang buồng trứng, điều trị phụ
trợ với các thuốc kháng estrogen (ví dụ clomifen) trong bệnh không rụng trứng.
U prolactin :
Điều trị bảo tồn trong trường hợp u tuyến nhỏ
và u tuyến lớn tiết prolactin của tuyến yên để làm ngừng sự phát triển hay giảm
kích thước của u tuyến trước khi phẫu thuật để dễ cắt bỏ, để làm giảm nồng độ
prolactin hậu phẫu nếu vẫn còn cao.
Bệnh to đầu chi :
Dùng một mình hoặc phụ trợ với chiếu xạ hoặc
phẫu thuật, dùng Bromocriptin một mình làm giảm nồng độ huyết tương của hormone
tăng trưởng.
Phòng ngừa tiết sữa sinh lý :
Sau khi sinh hoặc sảy thai, bằng cách ngăn chặn
sự tiết sữa bromocriptin ức chế xung huyết, căng vú và đề phòng chứng viêm vú ở
thời kỳ cữ.
Bệnh vú lành tính :
Bromocriptin làm giảm cơn đau ngực có liên quan
tới hội chứng tiền kinh hoặc các biến đổi của vú dưới dạng hạch hoặc dạng nang.
Khoa thần kinh :
Trong tất cả các giai đoạn của bệnh Parkinson
hậu viêm não và tự phát, dùng một mình hoặc kết hợp với các thuốc kháng
Parkinson khác.
CHỐNG CHỈ ĐỊNH
Không có chống chỉ định tuyệt đối trong khoa
nội tiết.
Dùng cho phụ nữ mang thai : xem phần Thận trọng
lúc dùng.
Trong khoa thần kinh :
Động kinh vô căn và động kinh gia đình, múa
giật Huntington, rối loạn tim mạch nặng, các dạng bệnh tâm thần nội sinh, cao
huyết áp khó trị, nhiễm độc huyết thai kỳ, tăng mẫn cảm với các loại alcaloid
nấm cựa gà khác.
CHÚ Ý ĐỀ PHÒNG và THẬN TRỌNG
LÚC DÙNG
Khả năng sinh sản có thể được phục hồi qua điều
trị với bromocriptin. Những phụ nữ ở tuổi sinh đẻ không muốn có thai nên dùng
phương pháp ngừa thai đáng tin cậy (không hormon). Ở những bệnh nhân muốn có
thai, phải chấm dứt dùng bromocriptin khi đã xác định có thai.
Suất độ sảy thai không thấy tăng lên sau khi
ngừng bromocriptin. Dùng trong 8 tuần đầu của thai kỳ nó không gây ra hậu quả
gì. Nếu mang thai xảy ra khi có u tuyến yên thì ngưng điều trị với bromocriptin,
phải thường xuyên giám sát chặt chẽ suốt thai kỳ và kiểm tra thường xuyên thị
trường người bệnh.
Ở những bệnh nhân có sự lan rộng của u
prolactin, phải sử dụng lại bromocriptin. Những bệnh nhân được điều trị bệnh đau
vú, các u nhỏ và/hoặc u nang vú phải loại trừ trường hợp ác tính.
Khi bromocriptin được dùng để ức chế tiết sữa
kỳ cữ, đặc biệt là trong tuần điều trị đầu tiên nên kiểm tra huyết áp. Trong
trường hợp cao huyết áp, nhức đầu trầm trọng thường xuyên đi kèm hoặc không đi
kèm rối loạn thị giác, phải ngưng điều trị và bệnh nhân phải được kiểm tra.
Các bệnh nhân mắc bệnh to đầu chi có tiền sử
xuất huyết tiêu hóa, tốt hơn nên dùng phương pháp điều trị khác. Nếu các bệnh
nhân này bắt buộc phải điều trị bằng bromocriptin thì khuyên họ nên thông báo
ngay các phản ứng về tiêu hóa nếu có.Phải thận trọng đặc biệt khi dùng liều cao
cho các bệnh nhân có tiền sử rối loạn tâm thần hoặc bị rối loạn tim mạch nặng.
Nếu điều trị cho các phụ nữ có các bệnh không liên quan với chứng prolactin
huyết cao, thì phải dùng bromocriptin với liều hiệu quả tối thiểu để tránh khả
năng làm giảm prolactin huyết thanh xuống dưới nồng độ bình thường, dẫn đến suy
chức năng hoàng thể.
Khi dùng cho các bệnh nhân Parkinson, phải kiểm
tra thường xuyên các chức năng gan-thận và chức năng tạo huyết. Những bệnh nhân
dùng liều cao có thể bị rối loạn tâm thần và sa sút trí tuệ nhẹ.
Trong số các bệnh nhân Parkinson điều trị kéo
dài (2-10 năm) với liều cao bromocriptin (30-140 mg), đôi khi thấy xảy ra tràn
dịch màng phổi. Mặc dù quan hệ nhân quả giữa việc điều trị bromocriptin với
những triệu chứng màng phổi chưa được xác định, những bệnh nhân bị rối loạn màng
phổi phải được khám toàn diện và chấm dứt dùng bromocriptin. Những người mẹ cho
con bú không nên điều trị với bromocriptin. Vì chưa có đầy đủ kinh nghiệm, thuốc
không nên kê toa cho trẻ em dưới 15 tuổi.
Khi bị dùng quá liều cấp tính có thể dùng
metoclopramide (như cerucal) để giải độc, tốt nhất là đường tiêm.
Vì rối loạn thị giác có thể xảy ra, phải đặc
biệt cẩn thận khi lái xe hoặc điều khiển máy móc.
Độ dung nạp bromocriptin có thể giảm do rượu.
TƯƠNG TÁC THUỐC
Trong một vài ngày điều trị đầu tiên, một số
bệnh nhân có thể buồn nôn, nôn, chóng mặt hoặc mệt mỏi, tuy nhiên các phản ứng
phụ này không nặng đến nỗi phải chấm dứt điều trị. Buồn nôn và/hoặc choáng váng
ban đầu có thể được ức chế bằng việc dùng thuốc chống nôn thích hợp (như
dimenhydrinate, thiethylperazine hoặc metoclopramide) khoảng 1 giờ trước khi
dùng bromocriptin.
Trong một số ít trường hợp, bromocriptin có thể
gây giảm huyết áp thế đứng, nên kiểm tra huyết áp bệnh nhân ở tư thế đứng.
Khi điều trị liều cao có thể xảy ra ảo giác, lú
lẫn, rối loạn thị giác, mất điều hòa vận động, khô miệng, táo bón, vọp bẻ. Tất
cả những phản ứng phụ này đều phụ thuộc vào liều lượng và thường có thể kiểm
soát được bằng cách giảm liều.
Chứng xanh tím đầu chi do trời lạnh, thỉnh
thoảng có thể xảy ra khi điều trị lâu dài, đặc biệt ở những bệnh nhân trước đó
đã có biểu hiện bệnh Raynaud.
LIỀU LƯỢNG và CÁCH DÙNG
Bromocriptin-Richter nên được dùng với thức ăn.
Khoa nội tiết :
Rối loạn chu kỳ kinh và vô sinh nữ :
Uống 2,5-3,75 mg (1/2 viên x 2-3 lần)/ngày. Nếu
cần thiết liều dùng có thể tăng lên 1 viên x 2-3 lần/ngày. Điều trị liên tục cho
đến khi chu kỳ kinh trở lại bình thường hoặc cho đến khi phục hồi sự rụng trứng.
Nếu cần, sự điều trị có thể được tiếp tục trong nhiều chu kỳ kinh để tránh tái
phát.
U prolactin :
Uống 2,5-3,75 mg (1/2 viên x 2-3 lần)/ngày,
tăng dần đến vài viên/ngày tùy yêu cầu giữ nồng độ prolactin một cách thích hợp.
Bệnh to đầu chi :
Dùng liều khởi đầu 2,5-3,75 mg (1/2 viên x 2-3
lần)/ngày, tăng dần lên 4-8 viên (10-20 mg)/ngày tùy theo đáp ứng lâm sàng và
phản ứng phụ.
Ức chế sự tiết sữa :
Dùng 5 mg (1 viên x 2 lần)/ngày trong bữa ăn
sáng và tối, trong 14 ngày.
Để tránh tiết sữa ban đầu, việc điều trị nên
bắt đầu không sớm hơn 4 giờ sau khi sinh hoặc sảy thai. Sự tiết sữa ở mức độ nhẹ
thỉnh thoảng xảy ra 2-3 ngày sau khi ngưng thuốc. Điều này sẽ chấm dứt khi điều
trị lại với liều như trên trong tuần tiếp theo.
Căng vú kỳ ở cữ :
Liều đơn 2,5 mg (1 viên) ; nếu cần thiết, có
thể lặp lại sau 6-12 giờ, khi không giảm tiết sữa.
Viêm vú kỳ cữ khởi phát :
Liều tương tự như dùng cho ức chế sữa, nên dùng
thêm kháng sinh.
Bệnh vú lành tính :
2,5-3,75 mg (1/2 viên x 2-3 lần)/ngày, tăng dần
đến 2-3 viên/ngày.
Khoa thần kinh :
Bệnh Parkinson :
Điều trị nên bắt đầu với liều thấp 1,25 mg (1/2
viên), tốt nhất là vào buổi tối, trong tuần đầu.
(Trong trường hợp điều trị kết hợp, liều dùng
phải được bắt đầu đồng thời với sự xuất hiện của phản ứng phụ của liệu pháp
levodopa như loạn vận động, hiện tượng "ngừng thuốc đột ngột").
Việc tăng liều phải được thực hiện từ từ với
liều gia lượng 1,25 mg/ngày mỗi tuần. Liều hàng ngày được chia làm hai hoặc ba
liều đơn. Sự đáp ứng điều trị có thể đạt trong 6-8 tuần.
Liều thông thường đối với điều trị một mình
hoặc kết hợp là 10-40 mg/ngày bromocriptin. Ở một vài bệnh nhân có thể cần liều
cao hơn, điều này nên cân nhắc tùy theo từng cá nhân. Điều quan trọng là phải
duy trì đáp ứng điều trị tối ưu càng lâu càng tốt với liều hiệu quả tối thiểu.
Nếu phản ứng phụ xảy ra trong giai đoạn phân liều thì liều hàng ngày phải giảm
và duy trì liều này tối thiểu là một tuần. Nếu hết phản ứng phụ thì có thể tăng
liều trở lại. Vì lý do an toàn liều tối đa hàng ngày không vượt quá 100 mg.
BẢO QUẢN