- Nhóm điều trị dược lý : theo những
nghiên cứu dược lý học, allylestrenol là một gestagen mạnh cũng là một steroid
bảo vệ thai. Nó không có tác dụng androgen và estrogen, cũng không ức chế chức
năng tuyến thượng thận và sinh dục.
- Cơ chế tác động : trong bảo vệ thai,
Turinal đóng vai trò thay thế hormon mà tác dụng lâm sàng của nó được bảo đảm
bằng đặc tính dưỡng thai mạnh. Theo những phát hiện mô hình thái học, hoạt động
tiết của lá nuôi và sự sản xuất oxytocinase tăng. Dưới tác dụng của Turinal, sự
tiết những chất chuyển hóa của những steroid nhau thai tăng, nghĩa là làm bình
thường hóa chức năng nhau thai. Turinal kích thích progesteron nội sinh, nên có
hiệu quả cao trong điều trị đe dọa sẩy thai và sẩy thai thường xuyên, như đã xác
định bằng nhiều quan sát lâm sàng.
- Tác dụng dược lực : như đã được chứng
minh bằng test Clauberg, tác dụng dưỡng thai của Turinal tương đương với
progesteron. Trong test Clauberg, Turinal cho thấy hoạt tính mạnh hơn ethisteron
8 lần. Trong test u màng rụng liều 2,5 mg cho những kết quả dương tính ở 75% súc
vật, trị số này vượt xa những tác dụng tương tự của norethisteron,
dimethisteron, methylpregnon và ethisteron. Turinal không có tác dụng estrogen
và androgen, cũng không ức chế chức năng tuyến thượng thận và sinh dục.
- Allylestrenol không có tác dụng ức chế lên
chức năng tuyến yên (mặt khác, nó ức chế đáng kể sự tiết hormon hướng sinh dục
của tuyến yên, theo phát hiện của Sas và cs.)
- Allylestrenol có tác dụng dưỡng thai trên nội
mạc tử cung, tương đương với tác dụng của progesteron.
DƯỢC ĐỘNG HỌC
- Allylestrenol được hấp thu hoàn toàn ở đường
tiêu hóa, nồng độ huyết thanh đỉnh thường đạt được trong vòng 2 giờ. Tác dụng
của thức ăn lên sự hấp thu chưa được biết.
- Sự tái tuần hoàn gan ruột không quan trọng
cho progestin, và không thể ảnh hưởng đến nồng độ đỉnh trong huyết thanh.
- Sự gắn kết của progestin này trong huyết
thanh chủ yếu xảy ra với albumin và SHBG. Sự gắn kết với albumin tương đối yếu,
nên sự phân ly progestin diễn ra dễ dàng; sự gắn kết với SHBG mạnh hơn nhiều và
biến đổi, và sự phân ly khó hơn. Hàm lượng SHBG huyết thanh cho thấy thay đổi
rộng ở những đối tượng không điều trị, và bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố khác
nhau. Phân phối progestin giữa 2 protein này và tình trạng không gắn kết phụ
thuộc vào yếu tố xác định trong huyết thanh ở những phụ nữ trước khi bắt đầu
điều trị hoặc sau vài tháng dùng thuốc, khi đã đạt được hàm lượng SHBG ổn định.
Ngoài ra, có sự khác nhau lớn giữa các đối tượng trong đáp ứng của SHBG với cùng
progestin.
- Allylestrenol được gan chuyển hóa thành
pregnandiol bất hoạt.
- Những chất chuyển hóa trong nước tiểu chủ yếu
liên hợp với acid glucuronic.
CHỈ ĐỊNH
Đe dọa sẩy thai : Uống mỗi lần một viên
nén, mỗi ngày uống 3 lần trong 5-7 ngày, tức là, cho đến khi chấm dứt triệu
chứng. Nếu cần, có thể tăng liều.
Xẩy thai thường xuyên : Từ những dấu
hiệu mang thai rất sớm, uống 1-2 viên nén mỗi ngày liên tục cho đến ít nhất là
một tháng sau giai đoạn nguy cơ.
Đe dọa sinh non : Liều tùy theo từng cá
thể ; thường dùng liều cao hơn liều nói trên (5-20 mg mỗi ngày).