Suy gan :
Chứng tăng kéo dài đáng kể (hơn 3 lần giới hạn
trên của mức bình thường) về transaminase huyết tương có thể xảy ra ở 1,9% bệnh
nhân dùng lovastatin trong tối thiểu 1 năm trong các nghiên cứu lâm sàng trước
đây.
Khi ngừng thuốc ở những bệnh nhân này, hàm
lượng transaminase thường tụt dần dần đến mức trước khi điều trị.
Tuy nhiên, trong những kinh nghiệm lâm sàng với
Recol, bệnh gan có triệu chứng hiếm khi xảy ra với các liều điều trị của
lovastatin.
Người ta khuyến cáo rằng thử test chức năng gan
nên được hoàn thành trước khi khởi đầu điều trị, lúc 6 và 12 tuần sau khi điều
trị hay tăng liều, sau đó phải kiểm tra định kỳ.
Thuốc nên được dùng cẩn thận ở những bệnh nhân
uống nhiều rượu hay đã có tiền sử bệnh gan. Bệnh gan tiến triển hay tăng
transaminase không giải thích được là những chống chỉ định dùng lovastatin.
Cơ xương :
Tiêu cơ vân thường đi kèm lovastatin đơn liệu
pháp, khi kết hợp với thuốc ức chế miễn dịch, kể cả cyclosporin ở những bệnh
nhân ghép tim, và khi kết hợp với gemfibrozil hoặc với acid nicotinic với liều
hạ lipid (1 g/ngày), ở những bệnh nhân không ghép. Một vài bệnh nhân đã mắc
trước bệnh suy thận, thường là do kết quả của đái tháo nhạt lâu dài. Suy thận
cấp do tiêu cơ vân thường được thấy hơn khi kết hợp lovastatin - gemfibrozil, và
cũng đã được báo cáo ở những bệnh nhân cấy ghép dùng lovastatin và cyclosporin.
Ở bệnh nhân dùng cyclosporin, nên tạm ngừng
lovastatin, nếu liệu pháp chống nấm toàn thân dẫn xuất azole là cần thiết ; ở
những bệnh nhân không dùng cyclosporin nên được giám sát cẩn thận, nếu liệu pháp
chống nấm toàn thân dẫn xuất azole là cần thiết.
Tiêu cơ vân kèm hay không kèm theo suy thận đã
được báo cáo ở những bệnh nhân trầm trọng dùng erythromycin đồng thời với
lovastatin.
Nên tránh kết hợp lovastatin với fibrate khác.
Nên tạm dừng hay ngưng luôn liệu pháp
lovastatin ở những bệnh nhân có bệnh cơ trầm trọng, cấp tính hay có những yếu tố
nguy cơ phát triển suy thận đưa đến tiêu cơ vân, bao gồm : nhiễm khuẩn cấp trầm
trọng, hạ huyết áp, đại phẫu, chấn thương, rối loạn điện giải, chuyển hóa và nội
tiết trầm trọng, ngất không kiểm soát được.
Bệnh cơ nên được xem xét ở những bệnh nhân đau
cơ lan tỏa, mềm và yếu cơ và hay tăng đáng kể CPK. Các bệnh nhân nên được khuyên
báo cáo kịp thời nếu đau cơ không giải thích được, mềm và yếu cơ, đặc biệt khi
kèm theo chóng mặt hay sốt. Liệu pháp lovastatin phải được ngưng nếu hàm lượng
CPK tăng đáng kể xảy ra hoặc khi bệnh cơ được chẩn đoán hay nghi ngờ.
Hầu hết các bệnh nhân đều phát triển bệnh cơ
(kể cả tiêu cơ vân) khi dùng lovastatin đồng thời với thuốc ức chế miễn dịch,
gemfibrozil hay những liều giảm lipid của acid nicotinic.
THẬN TRỌNG LÚC DÙNG
Tổng quát :
Lovastatin có thể làm tăng hàm lượng creatin
phosphokinase và transaminase. Điều này nên được xem xét trong các chẩn đoán
phân biệt đau ngực ở các bệnh nhân điều trị lovastatin.
Chứng tăng cholesterol huyết do đồng hợp tử
có tính gia đình :
Recol thường kém hiệu quả hơn ở bệnh nhân mắc
chứng bệnh hiếm chứng tăng cholesterol huyết do đồng hợp tử có tính gia đình, có
thể vì những bệnh nhân này không có các thụ thể LDL chức năng. Recol hình như có
hiệu quả hơn về tác dụng tăng transaminase ở những bệnh nhân đồng hợp tử này.
Thông tin cho bệnh nhân :
Các bệnh nhân cần báo cáo kịp thời chứng đau
cơ, chứng đau cơ lúc ấn không giải thích được, đặc biệt khi kèm theo chóng mặt
hoặc sốt.
Dùng trong nhi khoa :
Độ an toàn và hiệu quả ở trẻ em và thiếu niên
chưa được xác định.
TƯƠNG TÁC THUỐC
Recol thường được dung nạp tốt : các tác dụng
ngoại ý muốn thường nhẹ và tạm thời.
Đường tiêu hóa : đầy hơi, tiêu chảy, táo
bón và buồn nôn là những tác dụng ngoại ý thường xuyên nhất được báo cáo với
lovastatin. Những tác dụng ngoại ý trên đường tiêu hóa khác là đau bụng, co cơ
bụng, biếng ăn, ợ nóng và loạn vị giác.
Cơ xương : bệnh cơ đặc trưng là đau và
yếu cơ đã được báo cáo. Tiêu cơ vân kèm theo suy thận cấp cũng có thể xảy ra.
Tăng không triệu chứng hàm lượng huyết tương của isozyme creatin phosphokinase
cũng xảy ra ở 11% bệnh nhân dùng lovastatin.
Mắt : có thể mờ mắt. Đục thủy tinh thể
có thể phát triển ở những bệnh nhân điều trị lovastatin.
Tác dụng ngoại ý khác : nhức đầu, buồn
ngủ, nổi ban, ngứa, liệt dương và mất ngủ.
LIỀU LƯỢNG và CÁCH DÙNG
Liều khởi đầu thông thường được đề nghị là 20
mg, một lần mỗi ngày, dùng với bữa ăn chiều. Dãy liều đề nghị là 10-80 mg/ngày
dùng một lần hoặc chia làm 2 lần. Liều tối đa là 80 mg/24 giờ. Liều tùy theo
từng cá nhân theo mục tiêu điều trị (xem hướng dẫn NCEP) và đáp ứng của bệnh
nhân. Bệnh nhân cần phải giảm LDL-C 20% hay hơn để đạt mục tiêu, bắt đầu dùng 20
mg Recol/ngày. Liều khởi đầu 10 mg nên được xem xét cho những bệnh nhân cần liều
nhỏ hơn. Sự điều chỉnh nên tiến hành 4 tuần một lần hay hơn.
Ở bệnh nhân dùng thuốc ức chế miễn dịch đồng
thời với lovastatin (xem phần Chú ý đề phòng, Cơ xương), liệu pháp nên được bắt
đầu với 10 mg Recol và không quá 20 mg/ngày.
Liều 10 mg nên dùng cho phụ nữ hậu mãn kinh với
chứng tăng cholesterol huyết từ nhẹ đến trung bình.
Hàm lượng cholesterol nên được kiểm soát định
kỳ và xem xét giảm liều Recol nếu hàm lượng cholesterol sụt mạnh dưới mức mục
tiêu.
Liệu pháp đồng thời :
Các chứng cứ đầu tiên cho thấy rằng tác dụng hạ
cholesterol của lovastatin và acid mật, cholestyramine được hiệp đồng.
Liều ở bệnh nhân suy thận trầm trọng (thanh
thải creatinin (30 ml/phút), liều tăng trên 20 mg/ngày nên được xem xét thận
trọng và nếu thật sự cần, thì phải dùng cẩn thận (xem phần Dược lý lâm sàng và
Chú ý đề phòng : Cơ xương)
QUÁ LIỀU