Hấp thu :
Carbamazepine được hấp thu tương đối chậm và
gần như hoàn toàn. Độ khả dụng sinh học của thuốc gần như 100% và không bị ảnh
hưởng bởi thức ăn.
Phân phối :
Dịch não tủy và nước bọt : bằng 20-30% nồng độ
có trong máu. Sữa : bằng 25-60% nồng độ có trong máu. Carbamazepine qua được
nhau thai. Lượng phân phối vào khoảng 0,8-1,9 l/kg.
Nồng độ thuốc trong máu :
Tmax sau khi dùng liều duy nhất : 24 giờ. Nồng
độ thuốc tối đa sau khi dùng liều duy nhất 400 mg (viên nén) ; khoảng 4,5
mg/ml ; viên
phóng thích chậm CR : giảm đáng kể chỉ số biên độ và nồng độ thuốc tối đa ở giai
đoạn ổn định, trong khi nồng độ tối thiểu không giảm nhiều. Nồng độ hiệu dụng ở
giai đoạn ổn định khoảng 4-12
mg/ml. tương
đương với 17-50 mmol/l.
Nồng độ của carbamazepine-10,11-epoxide (hoạt chất chuyển hóa) : khoảng 30% của
nồng độ carbamazepine. Nồng độ carbamazepine ổn định trong máu đạt được trong
vòng 1-2 tuần, tùy thuộc vào mức độ mà tại đó chuyển hóa được tạo ra nhờ
carbamazepine (tự cảm ứng) hay nhờ các thuốc cảm ứng men khác (dị cảm ứng ; và
cũng phụ thuộc vào tình trạng bệnh nhân trước khi điều trị, liều dùng và thời
gian điều trị.
Gắn kết protein huyết thanh : 70-80%.
Chuyển hóa
Ở gan : carbamazepine được đào thải chủ yếu
dưới dạng epoxide-diol. Hoạt chất chuyển hóa là carbamazepine-10,11-epoxide.
Carbamazepine tạo ra hệ men gan mono-oxygenase.
Đào thải
Thời gian bán hủy trung bình sau khi dùng liều
duy nhất : 36 giờ ; sau các liều nhắc lại (tự cảm ứng của hệ enzyme gan
mono-oxygenase) : 16-24 giờ ; sau khi kết hợp với các thuốc cảm ứng men gan khác
(như phenytoin, phenobarbital) : 9-10 giờ. Bài tiết : sau khi dùng liều đơn 400
mg, 72% được bài tiết qua nước tiểu (2% ở dạng không đổi, 1% dạng epoxide,
khoảng 30% là carbamazepine-10,11-transdiol, và phần còn lại là các sản phẩm
chuyển hóa bất hoạt) và 28% được thải qua phân.
Động học trong những trường hợp lâm sàng đặc
biệt
Dược động học của carbamazepine không thay đổi
ở người có tuổi. Hiện chưa có tài liệu nào đề cập đến bệnh nhân suy chức năng
gan hoặc thận.
CHỈ ĐỊNH
Tegretol phải được dùng dưới sự giám sát y tế.
Đặc biệt lưu ý những bệnh nhân có những cơn động kinh hỗn hợp bao gồm cơn vắng ý
thức không điển hình, vì những trường hợp này thường đi kèm với sự xuất hiện
những cơn toàn thể hóa thường xuyên hơn. Nếu tình trạng động kinh trở nên nặng
hơn cần ngưng điều trị Tegretol.
Cơn động kinh có thể xảy ra khi bệnh nhân
chuyển từ dạng thuốc uống sang dạng viên đặt. Nồng độ calci trong máu nhất thiết
phải được giám sát 3-4 ngày sau khi bắt đầu dùng thuốc dưới dạng viên đặt hoặc
khi các cơn động kinh xảy ra thường xuyên hơn.
Bệnh nhân nên được thông báo về những dấu hiệu
nhiễm độc và các triệu chứng về huyết học, các biểu hiện về da hay phản ứng gan,
người bệnh phải được khuyên tới gặp bác sĩ ngay khi xuất hiện các phản ứng như
sốt, viêm họng, nổi ban, loét miệng, nổi vết thâm tím, đốm xuất huyết hoặc ban
xuất huyết giảm tiểu cầu tự phát. Với những bệnh nhân có tiền sử về tim mạch,
gan hoặc thận, hoặc các phản ứng huyết học với các loại thuốc khác, hoặc sau khi
điều trị gián đoạn với Tegretol, cần cân nhắc giữa lợi ích và nguy cơ và cần
theo dõi bệnh nhân chặt chẽ.
Các xét nghiệm chức năng gan cơ bản cần được
xác định trước khi bắt đầu trị với Tegretol, và xét nghiệm chức năng gan cần
phải được thực hiện đều đặn trong quá trình điều trị, đặc biệt với những bệnh
nhân có tiền sử bệnh gan và người lớn tuổi. Cần ngưng điều trị ngay nếu chức
năng gan bị suy yếu hoặc xuất hiện viêm gan tiến triển trong quá trình điều trị.
Đánh giá đầy đủ các thông số nước tiểu và xác định urê huyết BUN (Blood urea
nitrogen) trước khi điều trị và cách quãng đều đặn trong khi điều trị. Phản ứng
nhẹ ở da, như các vết dát hoặc sẩn ngoại ban thường biểu hiện thoáng qua và vô
hại. Các phản ứng này thường tự hết trong vòng vài ngày hoặc vài tuần với liều
điều trị như cũ hoặc khi đã được giảm liều. Tuy vậy người bệnh cần được theo dõi
chặt chẽ. Tegretol được ghi nhận có làm mất bạch cầu hạt và thiếu máu bất sản,
nhưng rất khó xác định chính xác do tỷ lệ xuất hiện rất thấp. Một vài dự đoán
cho rằng tỷ lệ mắc với Tegretol không cao hơn tỷ lệ tự phát trong dân số (4,7
trường hợp/1 triệu người/năm với bệnh mất bạch cầu hạt : 2,0 trường hợp/1 triệu
người/năm với thiếu máu bất sản tủy). Sự giảm tạm thời hoặc lâu dài tiểu cầu hay
bạch cầu từ mức độ hiếm gặp cho tới thường xuyên hơn trong điều trị Tegretol.
Các phản ứng này thường biểu hiện thoáng qua, tuy nhiên không báo hiệu sự biểu
hiện của thiếu máu bất sản tủy hay mất bạch cầu hạt. Việc định lượng tế bào máu
bao gồm cả tiểu cầu và hồng cầu lưới và sắt huyết thanh cần được tiến hành trước
khi bắt đầu điều trị. Tuy còn nhiều tranh luận về việc theo dõi các thông số về
máu, có nhiều đề nghị được đưa ra ví dụ như xét nghiệm hàng tuần trong tháng
điều trị đầu tiên, định lượng hàng tháng cho 5 tháng tiếp theo, và sau đó 2-4
lần/năm. Nếu có biểu hiện giảm bạch cầu hoặc tiểu cầu rõ rệt, cần theo dõi chặt
chẽ các xét nghiệm máu và tình trạng bệnh nhân. Cần ngưng trị Tegretol nếu xuất
hiện các dấu hiệu ức chế tủy xương. Nếu các dấu hiệu hay triệu chứng biểu hiện
phản ứng da nặng (như hội chứng Stevens-Johnson, hội chứng Lyell), cần ngưng trị
Tegretol ngay lập tức.
Tegretol có tác dụng nhẹ kháng cholinergic.
Bệnh nhân với dấu hiệu tăng nhãn áp cần được theo dõi chặt chẽ trong quá trình
điều trị. Cần lưu ý Tegretol có thể làm biểu hiện các rối loạn tâm thần tiềm
tàng, và dễ gây lú lẫn và kích động ở người già.
Sự rối loạn khả năng sinh sản ở phụ nữ và/hoặc
sinh tinh trùng bất thường ở nam được ghi nhận ở một vài trường hợp cá biệt. Mối
liên quan với Tegretol chưa được xác nhận.
Phụ nữ dùng thuốc tránh thai uống có thể xuất
hiện chảy máu ; độ tin cậy của thuốc tránh thai uống có thể bị giảm khi dùng
cùng Tegretol.
Mặc dù sự liên quan giữa liều dùng với nồng độ
thuốc trong máu, và giữa nồng độ thuốc với hiệu quả lâm sàng hay độ dung nạp khá
ít, sự giám sát lượng carbamazepine trong máu có thể hữu dụng trong các trường
hợp : khi có sự tăng đột ngột số cơn động kinh (để kiểm tra sự tuân trị của bệnh
nhân), trong khi có thai, khi điều trị cho trẻ em hoặc trẻ vị thành niên, nghi
ngờ có rối loạn hấp thu, nghi ngờ có dấu hiệu nhiễm độc khi kết hợp thuốc (xem
phần Tương tác thuốc).
Khi phải ngưng điều trị Tegretol đột ngột, sự
chuyển sang một thuốc kháng động kinh khác phải được che lấp bằng một loại thuốc
thích hợp (như diazepam đường tĩnh mạch hoặc đặt trực tràng, phenytoin đường
tĩnh mạch).
Ảnh hưởng trên khả năng lái xe hay vận hành
máy móc
Phản xạ của bệnh nhân có thể bị giảm do tác
dụng làm chóng mặt, ngủ gà của Tegretol, đặc biệt khi bắt đầu điều trị hoặc khi
đang chỉnh liều. Người bệnh do vậy cần thận trọng khi lái xe hay vận hành máy
móc.
LÚC CÓ THAI và LÚC NUÔI CON
BÚ
Do tác dụng tới hệ enzyme gan mono-oxygenase,
carbamazepine có thể làm hạ thấp nồng độ hoặc làm mất tác dụng của một số thuốc
chuyển hóa qua hệ này. Liều lượng của các thuốc này có thể cần điều chỉnh để phù
hợp với các yêu cầu lâm sàng : clobazam, clonazepam, ethosuximide, primidone,
acid valproic, alprazolam ; corticosteroid (như prednisolone, dexamethasone) ;
cyclosporin, digoxin, doxycycline, felodipine, haloperidol, imipramine,
methadone ; thuốc tránh thai uống (cần lựa chọn các phương thức tránh thai thích
hợp) ; theophylline ; thuốc chống đông uống (warfarin, phenprocoumone,
dicoumarol). Carbamazepine được ghi nhận làm tăng và giảm nồng độ mephenytoin.
Các thuốc sau làm tăng nồng độ carbamazepine :
erythromycine, troleandomycine, có thể josamycine, isoniazide, verapamil,
diltiazem, dextropropoxyphene, viloxazine, fluoxetine, cimetidine,
acetazolamide, danazol, desipramine, và nicotinamide (ở người lớn, và chỉ với
liều cao). Việc tăng nồng độ carbamazepine máu có thể dẫn tới các phản ứng phụ
(như choáng váng, ngủ gà, mất điều hòa, song thị), cần chỉnh liều Tegretol cho
phù hợp và/hoặc theo dõi nồng độ thuốc trong máu. Việc tăng khả năng nhiễm độc
gan do isoniazid được ghi nhận khi dùng kết hợp với thuốc này. Dùng phối hợp với
lithium hoặc metoclopramide, hay với các thuốc an thần kinh (như haloperidol,
thioridazine) có thể làm tăng các phản ứng về thần kinh (với thuốc an thần kinh
ngay ở nồng độ hiệu dụng).
Nồng độ carbamazepine có thể bị giảm do
phenobarbital, phenytoin, primidone, progabide, theophylline và có thể (mặc dù
có tài liệu nhận xét ngược lại) do clonazepam, acid valproic, valpromide. Cũng
có trường hợp ghi nhận acid valproic, valpromide và primidone làm tăng nồng độ
của hoạt chất carbamazepine-10,11-epoxide. Liều dùng Tegretol nên điều chỉnh nếu
cần. Việc dùng phối hợp với một số thuốc lợi tiểu (như hydrochlorothiazide,
furosemide) có thể làm giảm natri huyết. Carbamazepine có thể có tác dụng đối
kháng với các thuốc giãn cơ không gây khử cực (như pancuronium). Các thuốc này
do vậy cần được dùng với liều cao hơn, trong khi theo dõi chặt chẽ do việc loại
bỏ nhanh hơn tác dụng ức chế thần kinh cơ. Isotretinoin được ghi nhận làm thay
đổi tính khả dụng sinh học và/hoặc sự thanh thải của carbamazepine và
carbamazepine-10,11-epoxide ; nồng độ carbamazepine cần được theo dõi khi dùng
phối hợp thuốc.
Như các thuốc hướng thần khác, Tegretol có thể
làm giảm sự dung nạp rượu, và do vậy người bệnh không nên uống rượu trong khi
điều trị.
TÁC DỤNG NGOẠI Ý
Một số tác dụng phụ xuất hiện có thể hiếm gặp
hoặc thường xuyên hơn, đặc biệt khi bắt đầu điều trị với Tegretol, nếu liều ban
đầu quá cao, hay trong khi điều trị người lớn tuổi. Các tác dụng này bao gồm các
dấu hiệu về thần kinh (như chóng mặt, đau đầu, mất điều hòa, ngủ gà, mệt mỏi,
song thị), hay các rối loạn tiêu hóa (như buồn nôn, nôn) và các phản ứng dị ứng
da.
Các phản ứng liên quan đến liều dùng thường tự
giảm trong vài ngày hay sau khi tạm thời giảm liều. Các phản ứng về thần kinh có
thể là do dùng quá liều nhẹ hay do dao động lớn về nồng độ thuốc trong máu.
Những trường hợp này nên theo dõi nồng độ thuốc và giảm liều hàng ngày hoặc chia
thành 3-4 liều nhỏ.
Hệ thần kinh trung ương (và ngoại vi)
Phản ứng thần kinh :
Hay gặp : chóng mặt, mất điều hòa, ngủ gà, mệt
mỏi.
Đôi khi : đau đầu, song thị, rối loạn thị
trường (như mù màu).
Hiếm gặp : cử động vô thức (như run, loạn giữ
tư thế, loạn vận động miệng-mặt, múa giật, loạn trương lực cơ, máy cơ) ; rung
giật nhãn cầu.
Cá biệt : rối loạn vận nhãn, rối loạn ngôn từ
(loạn vận ngôn hay nói lắp), viêm dây thần kinh ngoại vi, dị cảm
Tâm thần :
Cá biệt : ảo giác (thị giác, thính giác), trầm
cảm, ăn mất ngon, bồn chồn, hành vi kích thích, kích động, lú lẫn, sự kích hoạt
các rối loạn tâm thần.
Da và phần phụ của da
Đôi khi hoặc khá thường gặp : phản ứng dị ứng
da, mày đay (có thể nặng hơn).
Hiếm gặp : viêm da tróc vẩy và đỏ da, hội chứng
Stevens-Johnson, hội chứng lupus ban đỏ hệ thống (SLE : systemic lupus
erythematosus).
Cá biệt : nhiễm độc hoại tử biểu bì, phản ứng
quá mẫn với ánh sáng, hồng ban đa dạng và ban nổi cục, thay đổi sắc tố da, ban
xuất huyết, ngứa, trứng cá, ra mồ hôi, rụng tóc, rậm lông (nữ).
Máu
Đôi khi hoặc khá thường gặp : bệnh giảm bạch
cầu, đôi khi tăng bạch cầu ưa eosin, giảm lượng tiểu cầu.
Hiếm gặp : chứng tăng bạch cầu, bệnh hạch bạch
huyết.
Cá biệt : mất bạch cầu hạt, thiếu máu bất sản
tủy, thiếu máu bất sản dòng hồng cầu, thiếu máu nguyên hồng cầu khổng lồ, cơn
rối loạn chuyển hóa porphyrin cấp, chứng tăng hồng cầu, thiếu hụt acid folic,
thiếu máu huyết tán.
Gan
Hay gặp : tăng lượng
g-GT (do giảm
enzyme gan), thường không có ý nghĩa lớn về lâm sàng.
Đôi khi : phosphatase kiềm tăng.
Hiếm gặp : transaminase tăng ; vàng da, ứ mật,
viêm nhu mô (tế bào gan), hoặc viêm gan hỗn hợp.
Cá biệt : viêm gan u hạt.
Tiêu hóa
Đôi khi hoặc khá thường xuyên : buồn nôn, nôn.
Thỉnh thoảng : khô miệng.
Hiếm gặp : ỉa chảy hoặc táo bón.
Cá biệt : đau bụng, viêm lưỡi, viêm miệng.
Dạng viên đặt đôi khi gây kích thích đại tràng.
Phản ứng quá mẫn
Hiếm gặp : quá mẫn muộn của các cơ quan biểu
hiện sốt, nổi ban, viêm mạch, bệnh hạch bạch huyết, rối loạn giống u lympho, đau
khớp, giảm bạch cầu, tăng bạch cầu ưa eosin, gan lách to, xét nghiệm gan không
bình thường, xuất hiện dưới nhiều dạng khác nhau. Các cơ quan khác cũng bị ảnh
hưởng (như phổi, thận, tụy, cơ tim).
Cá biệt : phản ứng phản vệ, viêm màng não vô
trùng với rung giật cơ và tăng bạch cầu ưa eosin ở ngoại biên. Cần ngưng điều
trị nếu các triệu chứng quá mẫn trên xuất hiện.
Tim mạch
Hiếm gặp : rối loạn dẫn truyền nhịp tim.
Cá biệt : nhịp tim chậm, loạn nhịp, bloc
nhĩ-thất với triệu chứng ngất, trụy mạch, suy tim xung huyết, tăng huyết áp hoặc
hạ huyết áp, suy vành, viêm huyết khối tĩnh mạch, bệnh huyết khối tắc mạch.
Hệ nội tiết và chuyển hóa
Đôi khi : phù, giữ nước, tăng cân , giảm natri
huyết và hạ nồng độ dịch do tác dụng giống ADH, dẫn tới có trường hợp cá biệt
nhiễm độc nước cùng các triệu chứng ngủ lịm, nôn, đau đầu, lú lẫn và các rối
loạn thần kinh.
Cá biệt : chứng vú to hoặc tiết sữa ở nam ; xét
nghiệm chức năng tuyến giáp không bình thường - giảm L-thyroxine (FT4, T4, T3)
và TSH tăng - thường không kèm theo biểu hiện lâm sàng ; rối loạn chuyển hóa ở
xương (giảm calci máu và 25-OH-cholecalciferol), dẫn tới cá biệt có trường hợp
nhuyễn xương ; tăng cholesterol, bao gồm lipoprotein tỷ trọng cao và
triglycerides.
Tiết niệu - Sinh dục
Cá biệt : viêm thận kẽ và suy thận, hay các dấu
hiệu giảm chức năng thận (như albumin niệu, đái máu, thiểu niệu, tăng urê máu
BUN (blood urea nitrogen), đái rắt, bí tiểu, rối loạn tình dục/bất lực.
Giác quan
Cá biệt : rối loạn vị giác, đục thủy tinh thể,
viêm kết mạc, ù tai, hạ thấp ngưỡng nghe.
Cơ xương
Cá biệt : đau khớp, đau cơ hay chuột rút.
Hô hấp
Cá biệt : quá mẫn cảm ở phổi biểu hiện sốt, khó
thở, viêm phổi khu trú hoặc viêm phổi.
LIỀU LƯỢNG và CÁCH DÙNG
Có thể uống thuốc trong, sau hoặc giữa các bữa
ăn.
Loại viên CR phóng thích hoạt chất từ từ (cả
viên hay nửa viên tùy thuộc vào đơn thuốc) phải nuốt khi uống, không nhai.
Động kinh :
Tegretol nên được chỉ định đơn trị liệu bất cứ
khi nào có thể được.
Điều trị phải được bắt đầu với liều thấp, sau
đó tăng từ từ cho tới khi đạt được tác dụng tối đa. Khi cơn động kinh được kiềm
chế tốt, có thể giảm dần tới liều tác dụng thấp nhất.
Có thể hữu ích nếu xác định được nồng độ thuốc
trong máu khi giữ mức liều tối ưu (xem phần Thận trọng lúc dùng).
Nếu Tegretol được dùng bổ sung cho một thuốc
chống động kinh khác, thuốc phải được đưa vào dần dần trong khi duy trì, hoặc
nếu cần điều chỉnh lại liều lượng của loại thuốc kia (xem phần Tương tác thuốc).
Người lớn : bắt đầu điều trị với liều 100-200
mg x 1-2 lần/ngày, tăng liều dần dần tới khi đạt được liều đáp ứng tối đa
(thường với liều 400 mg x 2-3 lần/ngày) ; 1600 mg hoặc thậm chí 2000 mg/ngày có
thể được chỉ định cho một vài bệnh nhân.
Trẻ em : 10-20 mg/kg cân nặng hàng ngày.
- Trẻ nhỏ <= 1 tuổi : 100-200 mg/ngày.
- 1-5 tuổi : 200-400 mg/ngày.
- 6-10 tuổi : 400-600 mg/ngày.
- 11-15 tuổi : 600-1000 mg/ngày.
Ở trẻ nhỏ 4 tuổi hoặc thấp hơn nên bắt đầu điều
trị với liều 20-60 mg/ngày, tăng liều 20-60 mg mỗi ngày. Với trẻ hơn 4 tuổi,
điều trị bắt đầu với liều 100 mg/ngày, và tăng liều 100 mg mỗi tuần. Nếu điều
trị thay thế bằng viên đặt, liều lượng cần được tăng 25% ở dưới mức đã nói ở
trên, liều tối đa không vượt quá 1000 mg.
Đau dây thần kinh V :
Liều bắt đầu 200-400 mg ngày. Phải tăng liều từ
từ cho tới khi hết triệu chứng đau (thường vào khoảng 200 mg x 3-4 lần/ngày).
Sau đó nên giảm liều dần dần cho tới liều duy trì thấp nhất có thể được. Liều
bắt đầu 100 mg x 2 lần/ngày có thể áp dụng đối với người lớn tuổi.
Hội chứng cai nghiện rượu :
Liều trung bình : 200 mg x 3-4 lần/ngày. Trong
các trường hợp nặng cần tăng liều trong những ngày đầu (ví dụ tới 400 mg x 3
lần/ngày). Bắt đầu điều trị trong các ca nặng cần phối hợp Tegretol với thuốc an
thần/thuốc ngủ (như clomethiazol, chlordiazepoxide). Khi đã qua giai đoạn cấp
tính. Tegretol được chỉ định tiếp tục với đơn trị liệu.
Cơn hưng cảm và phòng ngừa trạng thái
hưng-trầm cảm (lưỡng cực) :
Liều dùng khoảng 400-1600 mg/ngày ; liều dùng
400-600 mg/ngày, chia 2-3 lần. Liều dùng nên tăng nhanh trong cơn hưng cảm cấp
tính, trong khi tăng liều ít một đối với điều trị phòng ngừa rối loạn cảm xúc
lưỡng cực nhằm đạt sự dung nạp tốt nhất.
QUÁ LIỀU
Dấu hiệu và triệu chứng :
Thường là các biểu hiện về thần kinh trung
ương, hệ tim mạch và đường hô hấp.
Thần kinh trung ương : ức chế thần kinh,
mất định hướng, buồn ngủ, kích động, ảo giác, hôn mê ; mù màu, nói ngọng, loạn
vận ngôn, rung giật nhãn cầu ; trước tăng phản xạ, sau giảm phản xạ ; co giật,
rối loạn tâm thần vận động, rung giật cơ, hạ thân nhiệt.
Đường hô hấp : suy giảm hô hấp, phù
phổi.
Hệ tuần hoàn : nhịp tim nhanh, hạ áp,
đôi khi tăng huyết áp. Rối loạn phức bộ QRS ; ngất kèm theo ngừng tim.
Hệ tiêu hóa : nôn, chậm tiết dịch dạ
dày, giảm nhu động ruột.
Tiết niệu - Sinh dục : bí tiểu, thiểu
niệu ; giữ nước, ngộ độc nước giống tác dụng của ADH.
Xét nghiệm : hạ natri máu, toan chuyển
hóa, có thể tăng đường huyết, tăng creatinine phosphokinase cơ.
Xử trí :
Chưa có thuốc giải độc đặc hiệu.
Xử trí ban đầu tùy theo tình trạng của bệnh
nhân ; chuyển tới bệnh viện. Xác định nồng độ thuốc trong máu để xác minh sự ngộ
độc Carbamazepine và mức độ quá liều.
Hút, rửa dạ dày và dùng than hoạt. Bệnh nhân
cần được chăm sóc đặc biệt, với theo dõi chặt chẽ về tim mạch và cân bằng điện
giải.
Một số hướng dẫn cụ thể :
Hạ huyết áp : dùng dopamine hoặc dobutamine
đường tĩnh mạch.
Loạn nhịp tim : xử trí tùy từng trường hợp cụ
thể. Co giật : dùng benzodiazepine (như diazepam) hoặc một thuốc chống động kinh
khác như phenobarbital (thận trọng có thể làm tăng suy hô hấp) hay dùng
paraldehyde.
Hạ natri máu (ngộ độc nước) : hạn chế đưa nước
vào và truyền chậm, thận trọng dung dịch NaCl 0,9% đường tĩnh mạch. Các biện
pháp trên có thể hữu ích trong phòng ngừa tổn thương não. Truyền máu qua cột
than, nhưng cần tăng bài niệu, thẩm phân máu, và thẩm phân phúc mạc được ghi
nhận có kết quả.
Cần chú ý các triệu chứng tái phát hoặc nặng
thêm có thể xuất hiện ngày thứ 2 và 3 sau khi dùng quá liều do tác dụng hấp thu
chậm.