Fosfestrol (muối diethylstilboestrol
diphosphate tetrasodium, DESPP) có thể được xem như là dạng vận chuyển tan trong
nước của oestrogen tổng hợp diethylstilboestrol (DES), chất này được chuyển
thành dạng hoạt động nhờ sự phân tích men của nhóm acid phosphoric qua
phosphatase acid.
Dùng oestrogen cho đàn ông dẫn đến cơ chế hồi
lưu âm tính (vẫn chưa đuợc hiểu hoàn toàn) trục hạ đồi - tuyến yên - sinh dục,
có thể qua đường tương tác với các thụ thể androgen - làm giảm bài tiết LH ở
tuyến yên và giảm sản xuất testosterone. Nồng độ testosterone giảm tới mức được
thấy sau khi thiến. Ngoài ra còn có sự can thiệp trực tiếp vào việc sản xuất ra
androgen từ tinh hoàn. Oestrogen cũng gây ra tăng nồng độ prolactin và các
globulin kết hợp với hormon sinh dục trong huyết thanh dẫn đến sự chuyển dịch về
phía testosteron bất hoạt. Các thay đổi cũng xảy ra trong việc phân tách steroid
ở gan, trong hệ thống võng nội mô và tình trạng miễn dịch.
Ngoài các đặc tính về nội tiết, fosfestrol và
các chuyển hóa chất của nó DES monophosphate và DES đã cho thấy có tác dụng độc
tế bào đáng kể trong nhiều loại mô bướu. Liều trung bình có hiệu quả tác dụng
độc tế bào trực tiếp và hiệu quả chống gián phân là khoảng 0,5
mg/ml DES.
Trong mô tiền liệt tuyến DES ức chế hoạt tính
của DNA polymerase và có tác dụng ức chế tổng hợp DNA và RNA.
Độc tính :
LD50 (tiêm tĩnh mạch) là 300 mg/kg ở
chuột nhắt, 340 mg/kg ở chuột và 570 mg/kg ở thỏ.
Ở thỏ, tiêm tĩnh mạch liều duy nhất 100 mg/kg
diethylstilboestrol diphosphate không gây ra triệu chứng độc nào hay thay đổi gì
trên công thức máu (bao gồm cả số lượng tiểu cầu). Ở chó cũng vậy, không thấy
độc tính sau khi tiêm tĩnh mạch liều duy nhất 50 mg/kg diethylstilboestrol
diphosphate.
Trong các thử nghiệm về độc tính lên các chủng
động vật, sử dụng tiêm DES được dung nạp tốt ở tại chỗ lẫn toàn thân. Dùng 200
mg/kg tiêm dưới da hàng ngày ở chuột trong 20 ngày không gây ra tổn thương cơ
quan nào.
Ở chuột nhắt, diethylstilboestrol gây ra sự
hình thành các tế bào phân chia không điển hình ở tủy xương và phôi. Liều
fosfestrol đến 300 mg/kg gây ra đột biến chỉ ở tinh trùng. Ở liều 600 mg/kg
fosfestrol gây ra đột biến trội có thể tử vong. Các nghiên cứu in vivo ở tế bào
tủy xương cho thấy có sự tăng sai lệch nhiễm sắc thể phụ thuộc liều, đặc biệt là
ở chuột cái. Tổn thương tiêu sắc và xóa bỏ tiêu sắc cũng thường gặp hơn ở các
con vật cái ở liều 100 mg/kg.
Do đó diethylstilboestrol có khả năng có độc
tính di truyền.
DƯỢC ĐỘNG HỌC
Các chuyển hóa chất chính của fosfestrol là DES
monophosphate, DES, và các dạng liên hợp DES monoglucuronide, DES monosulphate
và DES glucuronide sulphate.
Sau khi cho tiêm tĩnh mạch, DES diphosphate và
DES monophosphate có thể chỉ được hồi phục trong huyết thanh sau một thời gian
rất ngắn (t1/2 = 5 phút đối với diphosphate và 30 phút đối với
monophosphate).
Sau khi cho uống, DES disphosphate và DES
monophosphate không thể phát hiện được trong huyết thanh, do khởi phát vận
chuyển sinh học nhanh kèm thủy phân ester trong niêm mạc ruột. Sự phân bố và
nồng độ DES và các chuyển hóa chất của nó cũng giống như sau khi dùng đường tĩnh
mạch. 90-95% DES đi vào tuần hoàn gan - ruột. Thuốc thường được đào thải khỏi
tuần hoàn gan - ruột trong 24 giờ, mặc dù có thể thấy đỉnh thứ hai và đỉnh thứ
ba ở trong máu đến 2 hay 3 ngày. 30-40% DES hiện diện trong máu được gắn với
hồng cầu. Chỉ có các glucuronide và các chất liên hợp hỗn hợp với thành phần ít
hơn (5-10%) được bài tiết qua thận. Các chất liên hợp khác, cũng như DES tự do
được bài tiết qua đường mật. Các chất liên hợp có thể hoạt động như một tiền
chất theo cùng kiểu như fosfestrol, phóng thích DES vào tế bào u bướu.
Tính khả dụng sinh học :
Ở chó, tính khả dụng sinh học của
diethylstilboestrol sau khi uống Honvan cao hơn là sau khi uống stilboestrol.
Hiệu quả lâm sàng của uống Honvan đã được báo cáo trong nhiều trường hợp.
CHỈ ĐỊNH
Tuyệt đối :
Được biết dị ứng với sodium fosfestrol hay với
các thành phần tá dược khác.
Tương đối :
Tăng đông máu, suy tim tiềm ẩn trước đó hay đã
có biểu hiện, tổn thương chức năng gan hay thận.
Cẩn thận ngừa thai :
Fosfestrol có thể gây ra các bất thường kiểu di
truyền. Người ta khuyến cáo không nên có con trong hay sau khi điều trị. Do đó,
đàn ông phải điều trị fosfestrol và mong muốn có con nên dự trữ tinh trùng trước
khi bắt đầu điều trị.
THẬN TRỌNG LÚC DÙNG
Chức năng gan bình thường không bị ảnh hưởng
bởi Honvan. Tuy nhiên, nếu bệnh nhân đã có tiền sử bệnh gan, nên thực hiện xét
nghiệm chức năng gan trước khi bắt đầu điều trị Honvan. Nếu kết quả bất thường,
nên đợi cho các giá trị trở về bình thường trước khi bắt đầu điều trị Honvan,
hoặc nếu cần thiết phải bắt đầu điều trị ngay thì các xét nghiệm chức năng gan
phải được kiểm tra liên tục trong thời gian điều trị.
LÚC CÓ THAI và LÚC NUÔI CON
BÚ
Bỏng rát, ngứa hay đau vùng hậu môn - sinh dục
hay xảy ra. Các triệu chứng này vô hại và hết nhanh chóng. Ngoài ra, các triệu
chứng tiêu hóa như buồn nôn và ói mửa cũng được thấy.
Điều trị fosfestrol có thể gây ra các dấu hiệu
nữ hóa, đôi khi có chứng vú to đau.
Các tác dụng phụ khác bao gồm các biến chứng
tim mạch, huyết khối thuyên tắc (như huyết khối tĩnh mạch sâu ở chân), phù ngoại
vi, ứ dịch và phản ứng quá mẫn cảm (thường dưới dạng nổi mẩn đỏ ở da).
Đã có những báo cáo riêng lẻ ghi nhận có thiếu
máu tán huyết, rối loạn chuyển hóa porphyrin biểu hiện muộn ở da, vàng da ứ mật
và tổn thương chức năng gan.
Cũng như các thuốc khác được sử dụng để điều
trị u bướu, nguy cơ sinh u thứ phát cũng không thể được loại trừ hoàn toàn khi
điều trị Honvan.
LIỀU LƯỢNG và CÁCH DÙNG
Liều lượng :
Liều phải được điều chỉnh tùy từng người, và
phải phân biệt giữa điều trị ban đầu và điều trị duy trì.
Điều trị ban đầu :
Liều tiêm tĩnh mạch hàng ngày.
Điều trị nên được bắt đầu với 1200 mg
fosfestrol tetrasodium tiêm tĩnh mạch chậm trong 10 ngày. Nếu không thể tiêm
fosfestrol hàng ngày điều trị ban đầu cũng có thể cho qua đường uống (360-480mg
fosfestrol tetrasodium 3 lần mỗi ngày).
Viên Honvan phải được uống trước bữa ăn, với
nước vừa đủ.
Các bệnh nhân có tổng trạng sức khỏe kém và các
bệnh nhân có suy tim, suy chức năng gan hay thận hay đòi hỏi bắt đầu điều trị
ngay, nên bắt đầu cho với liều bằng nửa liều thông thường ban đầu.
Điều trị duy trì :
Sau khi điều trị ban đầu tiêm tĩnh mạch, có thể
giảm liều hay chuyển sang điều trị fosfestrol uống, phụ thuộc vào các dấu hiệu
lâm sàng. Nên khởi đầu điều trị uống 120-240 mg fosfestrol 3 lần mỗi ngày.
Liều hàng ngày của fosfestrol tetrasodium không
nên dưới 240 mg.
Cách cho thuốc và thời gian điều trị :
Bệnh nhân nên nằm ngửa khi tiêm tĩnh mạch chậm
Honvan. Một ống (5 ml) thường được tiêm ít nhất là 2 phút.
Kích thích vùng hậu môn sinh dục được kiểm soát
bằng cách cho dùng kháng histamine, hay pha loãng fosfestrol trong dung dịch
dextrose trước khi tiêm.
Viên bao phim nên được uống với nước vừa đủ
trước bữa ăn.
QUÁ LIỀU