Hấp thu : Fenofibrate được hấp thu tốt
từ đường dạ dày ruột sau khi uống. Trong một nghiên cứu ở người tình nguyện khoẻ
mạnh, khoảng 80% liều duy nhất fenofibrate đánh dấu bằng đồng vị phóng xạ xuất
hiện trong nước tiểu chủ yếu dưới dạng acid fenofibric và các phức hợp
glucuronide của nó và 25% bài tiết trong phân. Nồng độ đỉnh trong huyết tương
của acid fenofibric xảy ra trong vòng 6 đến 8 giờ sau khi uống. Hấp thu
fenofibrate tăng khi dùng chung với thức ăn. Hấp thu của fenofibrate dạng vi hạt
tăng khoảng 35% so với uống thuốc lúc đói.
Phân phối : Ở người tình nguyện khoẻ
mạnh nồng độ trong huyết tương đạt đến trạng thái bình ổn trong vòng 5 ngày uống
thuốc. Không có ghi nhận về tích lũy thuốc sau những liều lặp lại.
Chuyển hóa : Sau khi uống, fenofibrate được
thủy phân nhanh chóng bởi esterase thành chất chuyển hoá có hoạt tính acid
fenofibric. Không tìm thấy fenofibrate nguyên dạng trong huyết tương. Dạng
chuyển hóa có hoạt tính, acid fenofibrate, kết hợp với acid glucuronide và sau
đó được bài tiết trong nước tiểu.
Thải trừ : Khi uống, fenofibrate được bài tiết
chủ yếu trong nước tiểu hầu hết dưới dạng chất chuyển hóa có hoạt tính acid
fenofibric và acid fenofibric glucuronide. Khoảng 60% thuốc bài tiết trong nước
tiểu và khoảng 25% trong phân.
Độ thanh thải của acid fenofibric giảm rất
nhiều ở bệnh nhân suy thận (độ thanh thải creatinine < 50 ml/phút). Tuy nhiên, ở
bệnh nhân suy thận vừa (độ thanh thải creatinine 50 đến 90 ml/phút), độ thanh
thải và dung lượng phân phối khi uống của acid fenofibric tăng so với người khỏe
mạnh. Do đó, nên giảm liều ở bệnh nhân suy thận nặng, nhưng không cần phải điều
chỉnh liều uống fenofibrate ở bệnh nhân suy thận vừa. Không có dữ liệu về tác
dụng của thiểu naống gan trên dược động học của fenofibrate.
CHỈ ĐỊNH
Do tương tự về hóa học, dược lý và lâm sàng
giữa fenofibrate và gembibrozil, clofibrate, kết quả thử nghiệm lâm sàng bất lợi
của những thuốc này cũng có thể áp dụng cho fenofibrate.
Tăng mức transaminase AST (SGOT) hoặc ALT
(SGPT) trong huyết thanh đã được ghi nhận khi điều trị với fenofibrate. Mức tăng
cao của những enzyme này sẽ trở lại như trước khi điều trị sau khi ngưng thuốc
hoặc trong khi tiếp tục điều trị. Nên thường xuyên theo dõi định kỳ mức
transaminase trong khi điều trị.
Bệnh sỏi mật : nếu nghi ngờ bệnh sỏi mật, nên
kiểm tra túi mật. Nên ngưng fenofibrate nếu tìm thấy sỏi mật.
Bệnh nhân đang dùng fenofibrate than phiền về
đau cơ, mềm và yếu cơ nên được đánh giá y khoa ngay về bệnh cơ kể cả mức CK
huyết thanh. Nếu nghi ngờ hoặc chẩn đoán bệnh cơ, nên ngưng fenofibrate.
Tính an toàn ở trẻ em : Tính an toàn và hiệu
quả ở trẻ em chưa được chứng minh.
LÚC CÓ THAI
Thuốc uống chống đông dùng cùng lúc : nên thận
trọng khi kê toa cùng lúc thuốc uống chống đông do khả năng chống đông giống
coumarin trong kéo dài thời gian prothrombin. Nên giảm liều thuốc chống đông
nhằm giữ thời gian prothrombin ở mức mong muốn.
Dùng cùng lúc với thuốc ức chế men khử HMG-Co :
không có dữ liệu về điều trị kết hợp những thuốc này. Kết hợp những chất tương
tự về hóa học và dược lý như gemfibroxil và simvastatin có nguy cơ kết hợp chứng
myoglobin-niệu, tăng đáng kể mức creatinine kinase (CK) và myoglobin-niệu dẫn
đến suy thận với tỉ lệ cao.
TÁC DỤNG NGOẠI Ý
Các nghiên cứu được công bố đã ghi nhận về tác
dụng không mong muốn ở khoảng 1% bệnh nhân điều trị với fenofibrate. Tác dụng
không mong muốn dẫn đến ngưng thuốc ở 6% bệnh nhân. Trong đa số trường hợp ngoại
ban ở da là tác dụng không mong muốn gây ngưng thuốc.
Những tác dụng không mong muốn có thể do
fenofibrate :
Tiêu hóa : viêm gan, sỏi mật, viêm túi
mật, gan to
Xương cơ : đau cơ, nhược cơ,
myoglobin-niệu
Da và phần phụ : nhạy cảm với ánh sáng,
chàm
Hô hấp : viêm phế nang dị ứng.
LIỀU LƯỢNG và CÁCH DÙNG