Không được chỉ định Etomidate-Lipuro cho những
bệnh nhân đã biết là bị mẫn cảm với etomidate hoặc nhũ dịch dầu.
Trên súc vật thí nghiệm, Etomidate-Lipuro đã
được chứng minh là có tiềm năng tạo porphyrin. Do đó không được dùng cho những
bệnh nhân bị rối loạn chức năng sinh tổng hợp nhân Hem về mặt di truyền, trừ phi
chỉ định dùng etomidate đã được xác định rõ sau khi cân nhắc kỹ lưỡng giữa nguy
cơ tiềm tàng với lợi ích mong chờ.
Trẻ mới đẻ và trẻ dưới 6 tháng tuổi không được
điều trị bằng Etomidate-Lipuro trừ phi có chỉ định bắt buộc trong thời gian điều
trị nội trú.
Phụ nữ có thai : xem mục Lúc có thai và Lúc
nuôi con bú.
CHÚ Ý ĐỀ PHÒNG và THẬN TRỌNG
LÚC DÙNG
Chú ý đề phòng :
Sau khi dùng kéo dài liên tục etomidate có nguy
cơ suy vỏ thượng thận thoáng qua.
Thận trọng lúc dùng :
Chỉ có bác sĩ có kỹ năng thành thạo đặt ống nội
khí quản và có sẵn thiết bị hô hấp nhân tạo mới được phép sử dụng
Etomidate-Lipuro.
Etomidate-Lipuro không có tác dụng giảm đau.
Nếu dùng trong gây mê thời gian ngắn, phải dùng một thuốc giảm đau mạnh, thí dụ
fentanyl, phải được cho trước hoặc cùng lúc với Etomidate-Lipuro ; nên chú ý
thêm tới những thông tin trong mục Tương tác thuốc.
Lái xe và vận hành máy móc :
Ngay cả khi Etomidate-Lipuro được dùng như đã
hướng dẫn, bệnh nhân đã dùng thuốc này sẽ không thể lái xe hay vận hành máy ít
nhất là 24 giờ sau khi dùng thuốc.
LÚC CÓ THAI và LÚC NUÔI CON
BÚ
Tác dụng gây ngủ của etomidate được tăng cường
bởi các thuốc thuộc nhóm an thần, opiates, giảm đau và rượu.
Không được trộn Etomidate-Lipuro với các thuốc
tiêm khác nếu không kiểm tra trước về tính tương hợp của thuốc.
Hơn nữa, Etomidate-Lipuro không được cho đồng
thời với các thuốc tiêm khác qua cùng một đường truyền trừ phi tính tương hợp
của thuốc đã được chứng minh. Do đó đối với các thuốc cần phải cho đồng thời,
thí dụ thuốc giảm đau, phải được cho lần lượt qua cùng một đường truyền hoặc qua
một canun tĩnh mạch riêng.
Có thể tiêm Etomidate-Lipuro vào bộ dây truyền
dung dịch đẳng trương Natri Clorid nhưng phải tạm ngừng truyền.
TÁC DỤNG NGOẠI Ý
Etomidate ức chế sinh tổng hợp các steroid của
vỏ thượng thận. Sau khi tiêm một liều duy nhất etomidate, đáp ứng của vỏ thượng
thận đối với các tác nhân kích thích bị giảm rõ rệt trong khoảng từ 4-6 giờ.
Sau khi tiêm một liều duy nhất etomidate trên
những bệnh nhân không được chuẩn mê, thường quan sát thấy các cơ cử động ngoài ý
muốn (chứng giật rung cơ). Chúng tương ứng với sự thoát khỏi sự ức chế các kích
thích não trung gian, tương tự như hiện tượng giật rung cơ trong giấc ngủ sinh
lý. Có thể tránh được các hiện tượng trên bằng cách cho dùng các thuốc chuẩn mê
thuộc nhóm opiates hoặc benzodiazepin trước khi dùng etomidate.
Thỉnh thoảng, sau khi dùng etomidate, có thể
xảy ra hiện tượng buồn nôn và ói mửa, tuy nhiên điều đó chủ yếu là do các thuốc
thuộc nhóm opiates được dùng đồng thời hoặc được dùng để chuẩn mê gây ra, hơn
nữa có thể bị ho, nấc và rét run.
Hiếm khi sau khi dùng etomidate, thấy giải
phóng ra histamin. Cho đến nay mới chỉ gặp 3 ca bị tác dụng phụ nghiêm trọng.
Tuy nhiên, etomidate vẫn là thuốc được chọn đầu tiên đối với những bệnh nhân có
tiền sử dị ứng.
Lác đác có gặp những báo cáo về hiện tượng co
thắt thanh quản sau khi dùng etomidate.
Chú ý :
Đặc biệt sau khi dùng etomidate liều cao và nếu
phối hợp với các thuốc an thần kinh trung ương, đôi khi có thể xảy ra hiện tượng
ngừng thở thoáng qua.
LIỀU LƯỢNG và CÁCH DÙNG
Liều dùng được điều chỉnh theo đáp ứng của từng
cơ thể và tác dụng lâm sàng.
Nên theo những hướng dẫn về liều lượng sau
đây :
Về nguyên tắc, liều có tác dụng gây ngủ nằm
trong khoảng 0,15-0,3 mg etomidate/kg thể trọng, tương ứng với 0,075-0,15 ml
Etomidate-Lipuro/kg thể trọng.
Trẻ em dưới 15 tuổi và người lớn tuổi dùng liều
duy nhất 0,15-0,2 mg etomidate, tương ứng với 0,075-0,1 ml Etomidate-Lipuro/kg
thể trọng. Đối với những bệnh nhân thuộc nhóm tuổi này, liều chính xác cũng phải
được điều chỉnh theo tác dụng lâm sàng.
Đối với những bệnh nhân bị bệnh xơ gan và những
bệnh nhân được chuẩn mê bằng các thuốc thuộc nhóm an thần, nhóm opiates hoặc
nhóm giảm đau thì liều dùng phải giảm đi.
Trong trường hợp gây mê đặc biệt để chấm dứt
tình trạng động kinh liên tục hoặc động kinh cơn liên tiếp, nên tiêm nhanh,
nghĩa là trong vòng 10 giây, đủ một liều etomidate (0,3 mg/kg thể trọng, tương
ứng với 0,15 ml Etomidate-Lipuro/kg thể trọng). Có thể tiêm nhắc lại liều này
vài lần, nếu cần.
Cách dùng và đường dùng :
Etomidate-Lipuro nhất thiết phải được tiêm bằng
đường tĩnh mạch và, theo nguyên tắc, phải thật chậm (một liều thường kéo dài
khoảng 30 giây), và ngắt quãng, nếu cần.
Không được tiêm vào động mạch vì
Etomidate-Lipuro có nguy cơ gây ra hoại tử nếu tiêm vào động mạch. Tiêm ngoài
tĩnh mạch sẽ rất đau.
Trước khi sử dụng Etomidate-Lipuro nên có sự
chuẩn mê thích hợp để tránh xảy ra chứng giật rung cơ. Nên sử dụng các thuốc
thuộc nhóm benzodiazepin, ví dụ diazepam bằng đường tiêm bắp khoảng 1 giờ hoặc
tiêm tĩnh mạch 10 phút trước khi tiêm Etomidate-Lipuro.
Đối với những bệnh nhân có biểu hiện động kinh
hoặc có xu hướng co giật tăng lên, nên tiêm nhanh Etomidate-Lipuro, nghĩa là
trong vòng vài giây, để tránh sự khuếch tán quá chậm của etomidate vào não.
Etomidate có sinh khả dụng tốt và tốc độ phân bố trong não nhanh sẽ ngăn ngừa
được những cơn co giật.
Chú ý :
Etomidate-Lipuro không chứa các chất bảo quản
chống vi khuẩn nấm mốc. Sau khi mở ống tiêm, phải rút ngay nhũ dịch vào bơm tiêm
trong điều kiện vô trùng và tiêm ngay, vì nhũ dịch dầu là môi trường thuận lợi
cho vi khuẩn nấm mốc phát triển. Phần không dùng đến phải hủy bỏ.
Lắc kỹ ống tiêm trước khi dùng để đảm bảo cho
hoạt chất được phân bố đều.
QUÁ LIỀU