Diclofénac sodium là một dẫn xuất acide
phénylacétique của acide carboxylique, là một kháng viêm không stéroide có tác
động như một chất ức chế hiệu quả, cạnh tranh, và không đảo ngược với men sinh
tổng hợp prostaglandine (cyclooxygénase) in vitro và in vivo và do đó ức chế sự
hình thành các sản phẩm sau đó của sự sinh tổng hợp prostaglandine. Với liều
điều trị thông thường, nhiều tác động kháng viêm và giảm đau có thể xem như là
dựa trên cơ sở của tính chất này.
Neo-pyrazon còn là chất ức chế bradykinine :
nhiều báo cáo cho biết một vài tác động của kinine (chất gây viêm), chất trung
gian hóa học của prostaglandine làm dễ dàng cho việc hình thành prostaglandine.
Vì vậy, diclofénac sodium (Neo-pyrazon) ức chế sinh tổng hợp prostaglandine cũng
có ý nghĩa là ức chế hoạt động của kinine.
Neo-pyrazon ngăn cản hoạt động của men lysosome
: điều này rất có giá trị vì men lysosome được xem như giữ vai trò quan trọng
trong bệnh căn của các bệnh khớp và trong sự thoái hóa của mô liên kết và khớp.
Neo-pyrazon mà thành phần hoạt chất là
diclofénac, gắn kết 99,7% với protéine huyết thanh, chủ yếu với albumine. Do các
mạch máu của vùng bị viêm cho phép các protéine có trọng lượng phân tử lớn đi
qua, các thuốc được gắn vào những protéine này có thể đạt đến nồng độ cao tại vị
trí viêm. Khi hiện diện ở vùng viêm có tính acide, các phân tử thuốc dưới dạng
tự do được giải phóng và một số đi xuyên qua màng lipide của tế bào.
Neo-pyrazon còn có ái lực cao với ổ viêm vì các
dẫn xuất acide chứ không phải là dẫn xuất base của thuốc kháng viêm không
stéroide định vị ở vị trí viêm.
Neo-pyrazon hòa tan tốt trong dịch ruột làm cho
thuốc có nồng độ tối đa trong huyết tương và khả dụng sinh học cao. Tính chất
này giúp làm giảm các chứng viêm nhanh chóng.
Qua các thử nghiệm khác nhau đã cho thấy
Neo-pyrazon tương đối an toàn và dung nạp tốt hơn một số thuốc kháng viêm không
stéroide khác như aspirine, indométacine, naproxène và ibuprofène.
CHỈ ĐỊNH
Điều trị dài hạn các triệu chứng trong :
- viêm thấp khớp mạn tính, nhất là viêm đa khớp
dạng thấp và viêm cứng khớp cột sống hay trong những hội chứng liên kết như hội
chứng Fiessiger-Leroy-Reiter và thấp khớp trong bệnh vẩy nến.
- bệnh cứng khớp gây đau và mất khả năng làm
việc.
Điều trị triệu chứng ngắn hạn các cơn cấp tính
của :
- bệnh thấp khớp và tổn thương cấp tính sau
chấn thương của hệ vận động như viêm quanh khớp vai cẳng tay, viêm gân, viêm bao
hoạt dịch, viêm màng hoạt dịch, viêm gân bao hoạt dịch.
- viêm khớp vi tinh thể (arthrite
microcristalline).
- bệnh khớp.
- đau thắt lưng, đau rễ thần kinh nặng.
Thuốc còn được chỉ định dùng giảm đau do phẫu
thuật nhỏ, phẫu thuật miệng, cắt amyđan, phẫu thuật hậu môn-trực tràng, sanh nở,
chấn thương do tai nạn hay trong thể thao, đau bụng do kinh nguyệt.
CHỐNG CHỈ ĐỊNH
Cẩn thận khi dùng kháng viêm không stéroide
trong các bệnh nhiễm trùng hay có nguy cơ nhiễm trùng cho dù được kiểm soát tốt
do thuốc có khả năng làm giảm sức đề kháng tự nhiên của cơ thể chống lại nhiễm
trùng và/hay che khuất các dấu hiệu thông thường của sự nhiễm trùng.
Theo dõi triệu chứng đường tiêu hóa, ngưng điều
trị trong trường hợp có xuất huyết dạ dày ruột.
Nếu điều trị lâu dài, nên kiểm tra chức năng
gan, thận và máu.
Ngưng điều trị khi có ban mụn nước.
THẬN TRỌNG LÚC DÙNG
Cẩn thận khi dùng và phải theo dõi đặc biệt các
bệnh nhân có tiền sử bệnh đường tiêu hóa (loét tá tràng, thoát vị hoành, viêm
loét đại tràng, bệnh Crohn), tiền sử rối loạn máu hay đông máu.
Khi bắt đầu điều trị, phải theo dõi kỹ việc bài
niệu và chức năng thận ở những bệnh nhân suy tim, xơ gan, thận hư mạn tính, bệnh
nhân có dùng thuốc lợi tiểu, những bệnh nhân mất máu nhiều sau một cuộc đại
phẫu, và đặc biệt là người có tuổi.
Người điều khiển phương tiện giao thông và sử
dụng máy móc cần lưu ý về nguy cơ bị choáng váng khi dùng thuốc.
LÚC CÓ THAI
Không nên phối hợp :
- Các thuốc kháng viêm không stéroide khác bao
gồm cả các dẫn xuất của salicylate liều cao : tăng nguy cơ gây loét và xuất
huyết tiêu hóa.
- Kháng đông đường uống, héparine dùng đường
tiêm và ticlopidine : tăng nguy cơ xuất huyết.
- Vòng tránh thai : có khả năng làm giảm hiệu
quả ngừa thai.
- Lithium : tăng lithium trong máu có thể đạt
đến liều độc do làm giảm bài tiết lithium qua thận.
- Méthotrexate với liều > 15 mg/tuần : làm tăng
độc tính huyết học của méthotrexate.
Thận trọng khi phối hợp :
- Thuốc lợi tiểu : nguy cơ suy thận cấp ở những
bệnh nhân bị mất nước do giảm độ lọc cầu thận.
- Méthotrexate với liều thấp < 15 mg/tuần :
kiểm tra hằng tuần trong suốt những tuần đầu kết hợp thuốc.
- Pentoxifylline : tăng nguy cơ xuất huyết.
Lưu ý khi phối hợp :
- Thuốc hạ huyết áp : diclofénac có thể làm
giảm tác dụng của thuốc lợi tiểu, thuốc chẹn bêta, thuốc ức chế men chuyển.
- Interféron
a : nguy cơ
ức chế hoạt động của interféron.
- Thuốc điều trị huyết khối : tăng nguy cơ xuất
huyết.
TÁC DỤNG NGOẠI Ý
Rối loạn đường tiêu hóa : thường gặp : buồn
nôn, ói mửa, tiêu chảy, táo bón, đau thượng vị (khi bắt đầu điều trị) ; hiếm khi
gây : loét, xuất huyết và thủng đường tiêu hóa (sau khi điều trị kéo dài).
Rối loạn máu : hiếm khi gây giảm bạch cầu, giảm
tiểu cầu, thiếu máu, suy tủy.
Phản ứng quá mẫn :
- da : phát ban, nổi mày đay, ngứa, chàm. Hiếm
khi gây ban đỏ đa dạng.
- hô hấp : phù Quincke, suyễn, hiếm khi có phản
ứng phản vệ, nhất là ở những người đã có dị ứng với aspirine.
Rối loạn hệ thần kinh trung ương : nhức đầu,
buồn ngủ, chóng mặt, choáng váng.
Rối loạn thính giác : ù tai, hiếm khi gây giảm
thính lực.
Rối loạn thị giác : nhìn mờ, nhìn thành hai.
Phản ứng ngoài da : hiếm khi gây các bệnh da
mụn nước (Stevens Johnson và hội chứng Lyell).
Hiếm khi gây phản ứng nhạy cảm với ánh sáng.
Rối loạn tiết niệu :
- thận : suy thận cấp tính, viêm thận kẽ, hiếm
khi bị hội chứng thận nhiễm mỡ.
- tiết niệu : tiểu ra máu, protéine niệu.
Rối loạn chức năng gan :
- tăng lượng transaminase.
- hiếm khi gây viêm gan có hay không có vàng
da.
Rối loạn thần kinh : mất ngủ, co giật.
Rối loạn tâm thần : dễ bị kích thích, ý thức u
ám.
Các tác dụng ngoại ý khác : viêm đại tràng,
hiếm khi gây phù ngoại biên, hạ huyết áp, tăng kali huyết, ngoại ban, rụng tóc.
LIỀU LƯỢNG và CÁCH DÙNG