Bệnh nhân được điều trị với tobramycin hay với
bất cứ các kháng sinh khác thuộc nhóm aminoglycosides cần phải lưu ý tuân thủ
các chỉ dẫn y khoa khi dùng thuốc, do các kháng sinh thuộc nhóm này tiềm tàng
độc tính trên thận và tai. Ảnh hưởng trên dây thần kinh số 8 có thể gia tăng,
nhất là ở bệnh nhân bị suy thận, hoặc ở bệnh nhân dùng liều aminoglycosides cao
hơn hay lâu hơn thời gian được khuyến cáo. Các biểu hiện độc thần kinh khác bao
gồm uể oải, cảm giác kim châm, co cơ và co giật. Nguy cơ bị điếc do dùng
aminoglycosides càng tăng khi nồng độ đỉnh hay nồng độ cặn của aminoglycosides
càng tăng. Bệnh nhân có thể bị tổn thương ốc tai mà không có các triệu chứng báo
trước trên thính giác trong thời gian điều trị, nhưng lại xảy ra và tiếp tục gây
ảnh hưởng khi kết thúc điều trị. Các biểu hiện độc tính trên thận hiếm khi xảy
ra trong những ngày đầu điều trị và thường sẽ hồi phục. Chức năng của thận và
dây thần kinh số 8 nên được theo dõi chặc chẽ ở bệnh nhân bị suy thận hay nghi
bị suy thận và ở những bệnh nhân lúc đầu có chức năng thận bình thường nhưng
trong khi điều trị lại có dấu hiệu suy thận. Trong quá trình điều trị, nên kiểm
tra định kỳ nồng độ đỉnh và nồng độ cắn của aminoglycosides nhằm tránh để cho
thuốc đạt đến nồng độ gây độc, đồng thời cần đảm bảo việc điều trị chỉ ở những
liều lượng thích hợp (xem Kiểm tra nồng độ trong huyết thanh). Nên tiến hành xét
nghiệm nước tiểu để phát hiện giảm tỷ trọng, tăng protein niệu, tế bào và trụ
niệu. Nên đo định kỳ BUN, creatinin huyết thanh và độ thanh thải creatinin. Nếu
được, nên đo thính lực đồ nhiều lần, nhất là ở những bệnh nhân có nguy cơ. Nên
ngưng điều trị khi có dấu hiệu tổn thương ốc tai hay thận. Thận trọng khi dùng
tobramycin ở trẻ sinh thiếu tháng hay trẻ sơ sinh do chức năng thận còn chưa
hoàn chỉnh, có thể dẫn đến gia tăng thời gian bán hủy của thuốc.
Nên tránh dùng đồng thời hay tiếp theo các
kháng sinh khác cũng có độc tính trên thần kinh và thận (như amikacin,
streptomycin, neomycin, kanamycin, gentamycin và paramomycin), cephalosporin,
viomycin, polymixin B, colistin, cisplatin và vancomycin. Không nên dùng chung
aminoglycosides với các thuốc lợi tiểu như furosemide và ethacrinic acid. Một số
thuốc lợi tiểu có độc tính trên tai và khi dùng đường tiêm tĩnh mạch có thể làm
tăng độc tính của aminoglycosides, đồng thời làm thay đổi nồng độ của kháng sinh
trong huyết thanh và trong mô.
Thuốc có chứa sodium metabisulfite, do đó có
thể gây phản ứng dị ứng và hen phế quản nặng ở những bệnh nhân bị nhạy cảm, nhất
là bệnh nhân bị hen phế quản.
Tobramycin không ảnh hưởng đến khả năng tập
trung khi lái xe hay vận hành máy.
Kiểm tra nồng độ trong huyết thanh :
Cần kiểm tra nồng độ đỉnh và nồng độ cặn trong
thời gian điều trị. Nồng độ đỉnh trong huyết thanh không nên vượt quá 12
mg/ml trong
thời gian dài. Nồng độ cặn tăng cao (trên 2
mg/ml)
có thể là dấu hiệu tích lũy thuốc tại mô. Sự tích lũy thuốc, nồng độ đỉnh quá
cao, lớn tuổi và tổng liều dùng là những yếu tố góp phần gây độc tính trên tai
và trên thận. Một cách tổng quát, nên kiểm tra nồng độ của thuốc trong huyết
thanh sau liều thứ hai và liều thứ ba, sau đó mỗi 3-4 ngày trong suốt thời gian
điều trị, nếu có dấu hiệu suy thận thì nên kiểm tra thường xuyên hơn. Bằng cách
này, có thể duy trì việc điều trị (xem Liều lượng và Cách dùng), nhất là ở những
bệnh nhân bị bệnh nặng và suy thận, hay ở những bệnh nhân bị nhiễm bởi các vi
khuẩn ít nhạy cảm hay bệnh nhân dùng liều cao.
Bệnh nhân bị bỏng :Ở bệnh nhân bị
bỏng diện rộng, dược động của aminoglycosides bị thay đổi. Ở những bệnh nhân
này, nên kiểm tra nồng độ của tobramycin trong máu và tính toán để cho liều
thích hợp.
Bệnh nhân đang được gây vô cảm :
Khả năng ngưng thở kéo dài hay thứ phát có thể
xảy ra khi dùng tobramycin ở những bệnh được gây vô cảm bằng các tác nhân gây
chẹn thần kinh cơ như succinylcholine, tubocurarin, decamethone hay bệnh nhân
được truyền một lượng lớn máu có citrat. Nếu xảy ra nghẽn thần kinh cơ, có thể
điều trị bằng muối canxi.
LÚC CÓ THAI và LÚC NUÔI CON
BÚ
Các tác dụng phụ thường chỉ xảy ra với một tỉ
lệ thấp ở bệnh nhân có chức năng thận bình thường khi không vượt quá liều lượng
và thời gian điều trị khuyến cáo. Ở người già, bệnh nhân bị suy thận, vượt quá
liều lượng và thời gian điều trị khuyến cáo thì nguy cơ xảy ra tác dụng ngoại ý
sẽ gia tăng. Các phản ứng phụ đặc trưng của kháng sinh nhóm aminoglycosides được
ghi nhận là độc tính trên ốc tai của dây thần kinh số 8, như chóng mặt, giựt
nhãn cầu, có tiếng vo vo trong tai và giảm thính lực. Tăng BUN và tiểu ít cũng
đã được ghi nhận.
Tác tác dụng phụ khác :
Các tác dụng phụ khác có thể xảy ra khi dùng
tobramycin gồm thiếu máu, mất bạch cầu hạt, giảm tiểu cầu, sốt, phát ban, ngứa,
mề đay, buồn nôn, nôn, tiêu chảy, nhức đầu, ngủ lịm, hay lẫn lộn và mất khả năng
định hướng, và đau tại nơi tiêm thuốc. Các bất thường có thể xảy ra khi dùng
tobramycin gồm tăng transaminase huyết thanh (SGOT-SGPT) và lactic
dehydrogenase, giảm canxi, magnê, natri và kali trong huyết thanh, giảm bạch
cầu, tăng bạch cầu và tăng bạch cầu ái toan.
LIỀU LƯỢNG và CÁCH DÙNG
Tobramycin có thể được dùng bằng đường tiêm IM
hay IV.
Tiêm IM :
Người lớn : ở bệnh nhân có chức năng thận bình
thường, liều khuyến cáo của tobramycin là 1 mg/kg mỗi 8 giờ. Thời gian điều trị
trung bình là 7-10 ngày. Có thể tăng liều đến 5 mg/kg/ngày ở bệnh nhân bị nhiễm
trùng nặng. Liều này nên được giảm xuống còn 3 mg/kg/ngày càng sớm càng tốt.
Trẻ em : 3-5 mg/kg/ngày, chia làm các liều bằng
nhau mỗi 8-12 giờ.
Trẻ sơ sinh : 2 mg/kg mỗi 12 giờ, đối với các
trẻ cân nặng từ 1,5 đến 2,5 kg.
Truyền IV :
Chỉ nên dùng đường truyền IV khi không thể dùng
đường tiêm IM. Nồng độ tobramycin sau khi pha không vượt quá 1 mg/ml (0,1%).
Thời gian truyền từ 1-2 giờ. Liều khi dùng đường IV tương tự như đối với đường
tiêm IM. Không nên dùng phối hợp tobramycin với các thuốc khác. Ở bệnh nhân bị
suy thận, nên chỉnh liều tùy theo mức độ suy thận.
Tương hợp :
Tobramycin tương hợp với đa số các dịch truyền
đường tĩnh mạch thông dụng hiện nay, nhưng không tương hợp với dung dịch heparin
và có thể tương tác hóa học với b-lactam.
Tobramycin tương kỵ với các dịch truyền có chứa alcohol, sargramostin và
clyndamycin phosphate nếu được pha loãng trong dung dịch glucose để tiêm.
Tobramycin tương kỵ về mặt vật lý với carbenicillin. Không được hòa lẫn với các
thuốc khác trong cùng một bơm tiêm hay cùng một đường truyền tĩnh mạch.
QUÁ LIỀU