Olanzapine là thuốc chống loạn thần có hoạt
tính dược lý học rộng trên một số hệ receptor.
Trong các nghiên cứu tiền lâm sàng, olanzapine
có ái lực (Ki ; < 100 nM) với các receptor của serotonin 5 HT2A/2C, 5
HT3, 5 HT6 ; dopamine D1, D2, D3,
D4, D5 ; muscarinic M1-M5 ;
adrenergic a1;
và histamine H1. Các nghiên cứu về hành vi động vật cho thấy
olanzapine có tác dụng đối kháng với 5HT, với dopamine, và kháng cholinergic,
phù hợp với khả năng gắn kết vào các receptor. Olanzapine có ái lực mạnh hơn với
receptor của serotonin 5HT2 in vitro so với D2 và
hoạt tính 5HT2 in vivo mạnh hơn so với hoạt tính D2.
Các nghiên cứu điện sinh lý đã chứng minh olanzapine gây giảm một cách chọn lọc
sự kích hoạt các tế bào thần kinh dopaminergic ở mesolimbic (A10), nhưng ít có
tác dụng đến thể vân (A9) trong chức năng vận động. Olanzapine làm giảm đáp ứng
né tránh có điều kiện, là một thử nghiệm xác định tác dụng chống loạn thần khi
dùng liều thấp hơn liều gây ra chứng giữ nguyên thế, là một tác dụng phụ trên
chức năng vận động. Không giống như một số thuốc chống loạn thần khác,
olanzapine gây tăng đáp ứng trong một thử nghiệm "làm giảm lo âu".
Trong một nghiên cứu liều uống duy nhất (10 mg)
dùng phương pháp chụp rơngen cắt lớp phát positron (Positron Emission
Tomography, PET) ở những người tình nguyện khỏe mạnh, olanzapine chiếm giữ
receptor 5HT2A nhiều hơn so với receptor dopamin D2. Hơn
nữa, một nghiên cứu hình ảnh dùng phương pháp chụp rơngen cắt lớp phát photon
đơn điện toán (Single Photon Emission Computerised Tomography, SPECT) ở những
người bệnh tâm thần phân liệt cho thấy những người bệnh đáp ứng với olanzapine
chiếm giữ D2 của thể vân ít hơn so với những những người bệnh đáp ứng
với risperidone và một số thuốc chống loạn thần khác, nhưng tương đương với
những những người bệnh đáp ứng với clozapine.
Cả hai trong hai thử nghiệm có kiểm chứng bằng
placebo và hai trong ba thử nghiệm có kiểm chứng bằng chất so sánh trên 2.900
bệnh nhân tâm thần phân liệt với cả hai triệu chứng dương tính và âm tính, thấy
olanzapine đã cải thiện nhiều hơn có ý nghĩa thống kê các triệu chứng dương tính
cũng như âm tính.
DƯỢC ĐỘNG HỌC
Olanzapine hấp thu tốt khi uống, đạt nồng độ
đỉnh trong huyết tương trong vòng 5 đến 8 giờ. Thức ăn không ảnh hưởng đến sự
hấp thu. Chưa xác định sinh khả dụng tuyệt đối đường uống so với đường dùng tĩnh
mạch. Nồng độ olanzapine trong huyết tương là tuyến tính và tỷ lệ với liều dùng
trong các thử nghiệm nghiên cứu có liều dùng từ 1 đến 20 mg.
Olanzapine được chuyển hóa tại gan qua cơ chế
liên hợp và oxy hóa. Chất chuyển hóa lưu thông chính là 10-N-glucuronide, và
không qua được hàng rào máu não. Các cytochrom P450-CYP1A2 và P450-CYP2D6 tham
gia vào việc tạo ra các chất chuyển hóa N-desmethyl và 2-hydroxymethyl. Cả hai
chất chuyển hóa này đều có hoạt tính dược lý học in vivo thấp hơn nhiều
so với olanzapine trong các nghiên cứu trên động vật. Tác dụng dược lý chủ yếu
là do chất olanzapine mẹ. Sau khi dùng đường uống, thời gian bán thải trung bình
ở người khỏe mạnh thay đổi phụ thuộc vào tuổi và giới tính. Sau khi dùng đường
uống ở người khỏe mạnh, thời gian bán thải trung bình là 33 giờ (21 đến 54 giờ
cho bách phân vị thứ 5 đến 95) và độ thanh thải huyết tương trung bình của
olanzapine là 26 L/giờ (12 đến 47 L/giờ cho bách phân vị thứ 5 đến 95).
Ở những người cao tuổi (65 và cao hơn) khỏe
mạnh so với những người trẻ tuổi, thời gian bán thải trung bình là kéo dài (51,8
so với 33,8 giờ) và độ thanh thải giảm đi (17,5 so với 18,2 L/giờ). Các thay đổi
dược động học ở người cao tuổi vẫn nằm trong phạm vi thay đổi của người trẻ
tuổi. Ở 44 người bệnh tâm thần phân liệt (65 tuổi), liều dùng từ 5 đến 20
mg/ngày không có sự khác biệt nào về các tác dụng phụ.
Ở phụ nữ so với nam giới, thời gian bán thải
trung bình là kéo dài (36,7 so với 32,3 giờ) và độ thanh thải giảm đi (18,9 so
với 27,3 L/giờ). Tuy nhiên, độ an toàn của olanzapine (5-20 mg) tương đương nhau
ở những bệnh nhân nữ (n=467) và nam (n=869).
Không có sự khác nhau đáng kể về thời gian bán
thải trung bình (37,7 so với 32,4) hoặc độ thanh thải (21,2 so với 25,0 L/giờ)
của olanzapine giữa người suy thận (độ thanh thải creatinin < 10 mL/phút) với
người khỏe mạnh. Khoảng 57% olanzapine được đánh dấu bằng chất phóng xạ được
thải qua nước tiểu, chủ yếu dưới dạng các chất chuyển hóa.
Ở người bệnh hút thuốc mà có rối loạn nhẹ chức
năng gan, thời gian bán thải trung bình (39,3 giờ) là kéo dài và độ thanh thải
(18,0 L/giờ) giảm tương tự như đối với những người khỏe mạnh không hút thuốc
(tương ứng là 48,8 giờ và 14,1 L/giờ).
Ở những người không hút thuốc so với hút thuốc
(nam giới và nữ giới), thời gian bán thải trung bình là kéo dài (38,6 so với
30,4 giờ) và độ thanh thải giảm (18,6 so với 27,7 L/giờ).
Độ thanh thải huyết tương của olanzapine thấp
hơn ở người cao tuổi so với người trẻ tuổi, ở nữ giới so với nam giới, và ở
người không hút thuốc so với người hút thuốc. Tuy nhiên, mức độ ảnh hưởng của
tuổi tác, giới tính, hoặc hút thuốc đến độ thanh thải và thời gian bán thải của
olanzapine là nhỏ khi so sánh với sự khác nhau chung giữa các cá thể.
Trong một nghiên cứu ở người Caucasian, Nhật
Bản và Trung Quốc, không có sự khác nhau về các thông số dược động học giữa ba
nhóm người này.
Khoảng 93% olanzapine gắn kết với protein huyết
tương khi nồng độ từ 7 đến 1000 ng/mL. Olanzapine gắn kết chủ yếu với albumin và
a1-acid-glycoprotein.
AN TOÀN TIỀN LÂM SÀNG
Độc tính cấp (Liều duy nhất) :
Những dấu hiệu độc tính đường uống ở những động
vật gặm nhấm là đặc điểm của những hợp chất chống loạn thần mạnh : giảm hoạt
động, hôn mê, run rẩy, co giật rung, chảy nước bọt, và giảm tăng trọng lượng.
Liều gây tử vong 50% là khoảng 175 mg/kg ở chuột cống và 210 mg/kg ở chuột nhắt.
Chó dung nạp được liều uống duy nhất đến 100 mg/kg mà không có tử vong. Những
dấu hiệu lâm sàng bao gồm an thần, mất điều hòa cơ, run rẩy, tăng nhịp tim, thở
khó khăn, co đồng tử, và biếng ăn. Ở khỉ, những liều uống duy nhất đến 100 mg/kg
gây mệt lả, và ở liều cao hơn làm mất một phần ý thức.
Độc tính của liều lặp lại :
Trong những nghiên cứu thời gian đến 3 tháng ở
chuột nhắt và đến 1 năm ở chuột cống và chó, những tác dụng chủ yếu là ức chế hệ
thần kinh trung ương, những tác dụng kháng cholinergic, và những rối loạn máu
ngoại biên. Có xuất hiện dung nạp đối với tác dụng ức chế hệ thần kinh trung
ương. Những thông số phát triển bị giảm xuống khi dùng liều cao. Những ảnh hưởng
có hồi phục, phù hợp với sự tăng prolactin ở chuột cống, bao gồm giảm khối lượng
buồng trứng và tử cung và những thay đổi hình thái ở biểu mô âm đạo và ở tuyến
vú.
Độc tính trên hệ huyết học :
Những tác dụng trên những thông số huyết học có
ở mỗi loài, bao gồm giảm bạch cầu phụ thuộc vào liều dùng olanzapine ở chuột
nhắt, giảm bạch cầu không đặc hiệu ở chuột cống ; tuy nhiên, không có bằng chứng
về độc tính trên tế bào tủy xương. Có giảm bạch cầu trung tính, giảm tiểu cầu,
hoặc thiếu máu có hồi phục ở một số chó dùng liều 8 hoặc 10 mg/kg/ngày (liều tác
dụng tổng cộng của olanzapine [AUC] gấp 12 đến 15 lần ở người dùng liều 12 mg).
Ở những con chó có giảm tế bào máu, không có những tác dụng ngoại ý trên những
tế bào gốc và những tế bào đang tăng sinh ở tủy xương.
Độc tính trên hệ sinh sản :
Olanzapine không gây quái thai. Tác dụng an
thần làm ảnh hưởng đến kết quả giao phối của chuột cống đực. Chu kỳ động dục bị
ảnh hưởng với liều 1,1 mg/kg (gấp 3 lần liều tối đa ở người) và các thông số
sinh sản ở chuột cống bị ảnh hưởng khi dùng liều 3 mg/kg (gấp 9 lần liều tối đa
ở người). Ở thế hệ sau của chuột cống dùng olanzapine, có ghi nhận bào thai chậm
phát triển và giảm thoáng qua mức hoạt động.
Khả năng gây đột biến :
Olanzapine không gây đột biến hoặc phá vỡ các
nhiễm sắc thể khi thử nghiệm hàng loạt các xét nghiệm tiêu chuẩn, bao gồm các
xét nghiệm đột biến vi khuẩn và các xét nghiệm in vitro, in vivo ở động vật có
vú.
Khả năng gây ung thư :
Dựa trên các kết quả nghiên cứu ở chuột nhắt và
chuột cống, có thể kết luận là olanzapine không gây ung thư.
CHỈ ĐỊNH
Những bệnh kèm theo : Olanzapine có hoạt tính
kháng cholinergic in vitro, nhưng trong các thử nghiệm lâm sàng, các triệu chứng
liên quan xuất hiện với tỷ lệ thấp. Do kinh nghiệm lâm sàng dùng olanzapine ở
những người bệnh có các bệnh kèm theo còn ít, nên cẩn thận khi kê toa olanzapine
cho bệnh nhân phì đại tuyến tiền liệt, tắc ruột liệt, hoặc các tình trạng liên
quan.
Lactose : Viên olanzapine có chứa lactose.
Các enzym gan transaminase, ALT, AST đôi khi
tăng thoáng qua, không có biểu hiện triệu chứng, đặc biệt ở giai đoạn đầu của
đợt điều trị. Cần cẩn thận theo dõi các bệnh nhân có tăng ALT hoặc/và AST, bệnh
nhân có các dấu hiệu và triệu chứng suy gan, bệnh nhân đã có sẵn các tình trạng
chức năng gan hạn chế và bệnh nhân đang dùng các thuốc có độc tính trên gan.
Trong trường hợp tăng ALT và/hoặc AST khi đang điều trị, cần theo dõi và cân
nhắc giảm liều.
Cũng như với các thuốc chống loạn thần khác,
cần cẩn thận khi dùng olanzapine ở những người bệnh có số lượng bạch cầu và/hoặc
bạch cầu trung tính thấp do bất cứ nguyên nhân nào, người bệnh có tiền sử ức
chế/ngộ độc tủy xương do thuốc, người bệnh có ức chế tủy xương do bệnh kèm theo,
xạ trị liệu hoặc hóa trị liệu, và người bệnh có các tình trạng tăng bạch cầu ưa
eosin hoặc bệnh tăng sinh tủy xương. 32 bệnh nhân có tiền sử mất bạch cầu hạt
hoặc giảm bạch cầu trung tính do clozapine, nhưng không có giảm số lượng bạch
cầu trung tính sau khi dùng olanzapine.
Hội chứng an thần kinh ác tính (Neuroleptic
Malignant Syndrome) : Hội chứng an thần kinh ác tính là tình trạng có khả năng
đe dọa tính mạng người bệnh, liên quan đến điều trị bằng thuốc chống loạn thần.
Hiếm có báo cáo về trường hợp hội chứng an thần kinh ác tính liên quan đến
olanzapine. Những biểu hiện lâm sàng của hội chứng an thần kinh ác tính là sốt
cao, cứng cơ, trạng thái tâm thần thay đổi, và có biểu hiện không ổn định của hệ
thần kinh thực vật (mạch hoặc huyết áp không đều, nhịp tim nhanh, toát mồ hôi,
loạn nhịp tim). Những dấu hiệu khác gồm tăng creatinine phosphokinase, myoglobin
niệu (tiêu cơ vân), và suy thận cấp. Cần ngừng ngay tất cả các loại thuốc chống
loạn thần, kể cả olanzapine, khi bệnh nhân có các biểu hiện và triệu chứng của
hội chứng an thần kinh ác tính hoặc khi có sốt cao không rõ nguyên nhân mà không
có các biểu hiện lâm sàng của hội chứng an thần kinh ác tính.
Cần cẩn thận khi dùng olanzapine ở người bệnh
có tiền sử động kinh hoặc có những yếu tố làm giảm ngưỡng động kinh. Động kinh
hiếm khi xảy ra ở những người bệnh khi điều trị bằng olanzapine. Phần lớn những
người bệnh này có tiền sử động kinh hoặc có những yếu tố nguy cơ của bệnh động
kinh.
Loạn vận động muộn : Trong các nghiên cứu so
sánh trong thời gian 1 năm hoặc ít hơn, tỷ lệ tai biến chứng loạn vận động ở
bệnh nhân khi điều trị olanzapine thấp hơn có ý nghĩa thống kê. Tuy nhiên, nguy
cơ loạn vận động muộn tăng lên khi dùng thuốc chống loạn thần trong thời gian
dài, nên cần giảm liều hoặc ngừng thuốc khi xuất hiện các dấu hiệu hoặc các
triệu chứng này. Những triệu chứng loạn vận động muộn có thể nặng lên theo thời
gian hoặc thậm chí xuất hiện sau khi ngừng điều trị.
Vì olanzapine có tác dụng chủ yếu trên hệ thần
kinh trung ương, nên phải cẩn thận khi dùng kết hợp với các thuốc khác cũng tác
dụng trên hệ thần kinh trung ương và rượu. Vì olanzapine thể hiện tính đối kháng
với dopamine in vitro, nên olanzapine có thể đối kháng với tác dụng của
các chất chủ vận dopamine gián tiếp và trực tiếp.
Hạ huyết áp tư thế ít khi xảy ra ở những người
lớn tuổi trong những thưý nghiệm lâm sàng olanzapine. Cũng như đối với những
thuốc chống loạn thần khác, nên đo huyết áp định kỳ ở những người bệnh trên 65
tuổi.
Trong những thử nghiệm lâm sàng, olanzapine
không liên quan đến tăng kéo dài khoảng QT tuyệt đối. Chỉ có 8 trong số 1685 đối
tượng có tăng khoảng QT trong nhiều trường hợp. Tuy nhiên, cũng như đối với
những thuốc chống loạn thần khác, nên cẩn thận khi cho toa olanzapine cùng với
những thuốc đã biết là làm tăng khoảng QT, đặc biệt ở người cao tuổi.
Lái xe và vận hành máy móc :
Người bệnh nên dùng cẩn thận thuốc này khi lái
xe hoặc đang điều khiển máy móc nguy hiểm vì olanzapine có thể gây ngủ.
LÚC CÓ THAI và LÚC NUÔI CON
BÚ
Khả năng những thuốc khác ảnh hưởng đến
Olanzapine : Thuốc kháng acid (magnesi, nhôm) hoặc cimetidine liều duy nhất
không ảnh hưởng đến sinh khả dụng của olanzapine dùng đường uống. Tuy nhiên,
dùng đồng thời than hoạt sẽ làm giảm sinh khả dụng của olanzapine đường uống từ
50 đến 60%. Chuyển hóa của olanzapine có thể bị cảm ứng do hút thuốc (độ thanh
thải của olanzapine thấp hơn 33% và thời gian bán thải dài hơn 21% ở những người
không hút thuốc so với những người hút thuốc) hoặc điều trị bằng carbamazepin
(độ thanh thải tăng 44% và thời gian bán thải giảm 20% khi điều trị bằng
carbamazepin). Hút thuốc và điều trị bằng carbamazepin gây cảm ứng hoạt tính
P450-1A2. Dược động học của theophylline, một thuốc chuyển hóa nhờ P450-1A2,
không thay đổi khi dùng olanzapine. Chưa có nghiên cứu về tác dụng của những
chất ức chế mạnh hoạt tính P450-1A2 trên dược động học của olanzapine.
Khả năng olanzapine ảnh hưởng đến những thuốc
khác : Trong các thử nghiệm lâm sàng dùng liều duy nhất olanzapine, không có sự
ức chế chuyển hóa của imipramine/desipramine (P450-2D6 hoặc P450-P3A/1A2),
warfarin (P450-2C9), theophylline (P450-1A2), hoặc diazepam (P450-3A4, và
P450-2C19). Olanzapine cũng không có tương tác khi dùng chung với lithium hoặc
biperiden. Đã nghiên cứu khả năng của olanzapine làm ức chế chuyển hóa thông qua
5 cytochrom chủ yếu in vitro. Những nghiên cứu này cho thấy hằng số ức
chế đối với 3A4 (491 mM),
2C9 (751 mM),
1A2 (36 mM),
2C19 (920 mM),
2D6 (89 mM),
mà khi so sánh với nồng độ huyết tương olanzapine là 0,2
mM, có nghĩa
là sự ức chế tối đa của những hệ thống P450 do olanzapine thấp hơn 0,7%. Chưa rõ
sự liên quan đến lâm sàng của những kết quả này.
Nồng độ olanzapine lúc ổn định không có ảnh
hưởng đến dược động học của ethanol. Tuy nhiên, tác dụng hiệp đồng về dược lý
học như gây tăng an thần có thể xảy ra khi dùng ethanol cùng với olanzapine.
TÁC DỤNG NGOẠI Ý
Các tác dụng không mong muốn thường gặp (>
10%) :
Những tác dụng không mong muốn thường gặp liên
quan đến dùng olanzapine trong các thử nghiệm lâm sàng chỉ là buồn ngủ và tăng
trọng. Tăng trọng khi có giảm chỉ số trọng lượng cơ thể (Body Mass Index) trước
khi điều trị và với liều khởi đầu là 15 mg hoặc cao hơn.
Các tác dụng không mong muốn ít gặp (1-10%)
:
Những tác dụng không mong muốn ít gặp liên quan
đến dùng olanzapine trong các thử nghiệm lâm sàng bao gồm chóng mặt, tăng cảm
giác ngon miệng, phù ngoại biên, hạ huyết áp tư thế đứng, và những tác dụng
kháng cholinergic nhẹ, thoáng qua gồm khô miệng và táo bón.
Đôi khi có tăng bạch cầu ưa eosin không triệu
chứng.
Đôi khi có tăng thoáng qua và không triệu chứng
các enzym transaminase gan, ALT và AST, đặc biệt ở giai đoạn đầu của đợt điều
trị (xem thêm phần Chú ý đề phòng và Thận trọng lúc dùng).
Trong những nghiên cứu có kiểm tra bằng hoạt
chất, những người bệnh khi điều trị bằng olanzapine có tỷ lệ xuất hiện bệnh
Parkinson, chứng đứng ngồi không yên và loạn trương lực cơ thấp hơn so với những
liều haloperidol đã chuẩn độ. Vì không có thông tin chi tiết về tiền sử của
những rối loạn vận động ngoại tháp cấp tính và muộn, nên hiện nay không thể kết
luận là olanzapine gây ra ít hơn chứng loạn vận động muộn và/hoặc những triệu
chứng ngoại tháp muộn khác.
Các tác dụng không mong muốn hiếm gặp (< 1%)
:
Hiếm có báo cáo về phản ứng nhạy cảm với ánh
sáng và nổi ban. Cũng hiếm có báo cáo về viêm gan.
Động kinh hiếm khi xảy ra ở những người bệnh
điều trị bằng olanzapine. Phần lớn những người bệnh này có tiền sử động kinh
hoặc có những yếu tố nguy cơ của bệnh động kinh.
Các tác dụng khác :
Đôi khi có tăng nồng độ prolactin huyết tương,
nhưng các biểu hiện lâm sàng liên quan (ví dụ như to vú ở nam giới, chảy sữa, to
vú ở nữ giới) hiếm khi có. Ở phần lớn bệnh nhân, nồng độ prolactin trở về phạm
vi bình thường mà không cần ngừng điều trị.
Hiếm có báo cáo về trường hợp hội chứng an thần
kinh ác tính (NMS) liên quan đến olanzapine (xem thêm phần Chú ý đề phòng và
Thận trọng lúc dùng).
Hiếm khi có những trường hợp nồng độ creatinin
phosphokinase cao.
Đôi khi có những thay đổi trong huyết học như
giảm bạch cầu và giảm tiểu cầu.
LIỀU LƯỢNG và CÁCH DÙNG
Liều khuyên dùng khởi đầu của olanzapine là 10
mg, dùng một lần trong 24 giờ mà không cần chú ý đến bữa ăn. Sau này có thể điều
chỉnh liều hằng ngày tùy theo tình trạng lâm sàng, thay đổi từ 5 mg đến 20 mg
trong 24 giờ. Chỉ được tăng liều cao hơn liều thông thường 10 mg trong 24 giờ,
nghĩa là dùng liều 15 mg trong 24 giờ hoặc cao hơn, sau khi đã có đánh giá lâm
sàng thích hợp.
Trẻ em : Olanzapine chưa được nghiên cứu
ở người dưới 18 tuổi.
Người bệnh cao tuổi : Không nên dùng
thường quy liều khởi đầu thấp là 5 mg, nhưng nên cân nhắc đối với người bệnh hơn
65 tuổi khi có kèm các yếu tố lâm sàng không thuận lợi.
Người bệnh suy thận và/hoặc suy gan : Nên cân
nhắc để dùng liều khởi đầu thấp là 5 mg ở những người bệnh này. Trong trường hợp
suy gan trung bình (xơ gan, loại A hoặc B Child-Pugh), nên dùng liều khởi đầu 5
mg và cẩn thận khi tăng liều.
Người bệnh nữ so với người bệnh nam : Không có
khác nhau về liều khởi đầu và phạm vi liều thông thường ở người bệnh nam và
người bệnh nữ.
Người bệnh không hút thuốc so với người bệnh có
hút thuốc : Không có khác nhau về liều khởi đầu và phạm vi liều thông thường ở
người bệnh không hút thuốc và người bệnh có hút thuốc.
Khi có nhiều hơn một yếu tố làm chậm quá trình
chuyển hóa của olanzapine (nữ giới, tuổi già, không hút thuốc), nên cân nhắc để
dùng liều khởi đầu thấp. Nên cẩn thận khi có chỉ định tăng liều ở những người
bệnh này (xem thêm phần Tương tác và Dược động học).
QUÁ LIỀU
Kinh nghiệm khi dùng quá liều olanzapine còn
hạn chế. Trong các thử nghiệm lâm sàng, có 67 bệnh nhân dùng quá liều olanzapine
cấp tính do vô ý hoặc cố tình. Ở bệnh nhân dùng liều cao nhất được phát hiện là
300 mg, có triệu chứng chóng mặt và nói nhịu. Với số lượng bệnh nhân hạn chế
được đánh giá tại bệnh viện, kể cả bệnh nhân dùng 300 mg, không thấy có các dấu
hiệu có hại ở các chất được xét nghiệm và điện tâm đồ. Các dấu hiệu sinh tồn vẫn
trong mức giới hạn bình thường ở những bệnh nhân dùng quá liều.
Dựa vào các dữ liệu trên động vật, các triệu
chứng quá liều là những triệu chứng của sự tăng quá mức những tác dụng dược lý
đã biết của thuốc. Các triệu chứng này bao gồm buồn ngủ, giãn đồng tử, mắt mờ,
ức chế hô hấp, hạ huyết áp, và có thể có các rối loạn ngoại tháp.
Không có thuốc giải độc đặc hiệu cho
olanzapine. Vì vậy, cần bắt đầu với các biện pháp điều trị hỗ trợ thích hợp. Cần
xem xét khả năng quá liều của nhiều loại thuốc khác nhau.
Trong trường hợp ngộ độc cấp tính, cần thiết
lập và giữ thông đường hô hấp, đảm bảo quá trình oxy hóa và thông khí đầy đủ.
Nên xem xét dùng than hoạt, vì than hoạt làm giảm sinh khả dụng của olanzapine
dùng đường uống từ 50 đến 60%. Nếu cần, nên rửa dạ dày (sau khi đặt ống thông
vào khí quản, nếu bệnh nhân hôn mê). Thẩm phân lọc máu không tách bỏ được nhiều
olanzapine.
Hạ huyết áp và trụy mạch nên điều trị bằng các
biện pháp thích hợp như truyền dịch và/hoặc thuốc kích thích giao cảm như
norepinephrine (không dùng epinephrine, dopamine, hoặc các thuốc kích thích giao
cảm khác có hoạt tính chủ vận bêta, vì kích thích bêta có thể làm nặng thêm tình
trạng hạ huyết áp trong hoàn cảnh receptor
a bị phong bế do olanzapine). Cần theo dõi
tim mạch để phát hiện những chứng loạn nhịp tim. Tiếp tục theo dõi kỹ, cho đến
khi người bệnh hồi phục.
BẢO QUẢN