Durogesic là hệ thống trị liệu thấm qua da cung
cấp fentanyl, thuốc giảm đau nhóm opioid mạnh, liên tục vào máu trong suốt 72
giờ.
Durogesic là thuốc có dạng miếng băng dán hình
chữ nhật trong suốt gồm 1 lớp màng bảo vệ và 4 lớp màng có chức năng. Từ mặt
ngoài đến mặt trong dính vào da, các lớp này bao gồm : lớp màng sau bao phim
polyester ; hệ thống dự trữ thuốc fentanyl (2,5 mg/10 cm2) và cồn
tiêu chuẩn USP (0,1 ml/10 cm2) được gel hóa với hydroxyethylcellulose
; màng ethylenevinyl acetat polymer giúp kiểm soát tốc độ phóng thích fentanyl ;
và lớp màng dính silicone. Trước khi dùng, gở bỏ lớp màng bảo vệ ra khỏi lớp
màng dính.
Miếng dán kích thước 10 và 20 cm2
được thiết kế để phóng thích fentanyl 25 mg
và 50 mg
mỗi giờ vào máu. Các thành phần khác là các chất trơ không có tác động dược lý.
Có dưới 0,2 ml alcohol được phóng thích từ miếng dán trong suốt 72 giờ sử dụng.
DƯỢC LỰC
Durogesic cung cấp thuốc Fentanyl qua da liên
tục suốt 72 giờ dán miếng dán. Fentanyl được phóng thích ở tốc độ tương đối hằng
định, nhờ bởi màng phóng thích copolymer và sự khuếch tán fentanyl qua lớp da.
Sau khi bắt đầu dán Durogesic, nồng độ fentanyl trong máu gia tăng dần dần, nồng
độ tăng dần trong khoảng 12 đến 24 giờ và duy trì tương đối hằng định đối với
khoảng thời gian còn lại trong thời gian dán 72 giờ.
Nồng độ fentanyl trong máu tỉ lệ với kích thước
miếng dán. Sau khi dán lặp lại miếng dán mỗi 72 giờ, nồng độ thuốc trong máu
hằng định đạt được ở mỗi bệnh nhân được duy trì trong suốt các lần dán kế tiếp
miếng dán có cùng kích thước.
Sau khi gỡ bỏ Durogesic, nồng độ fentanyl trong
máu giảm dần dần, còn khoảng 50% sau 17 giờ (từ 13 đến 32 giờ).
Sự hấp thụ liên tục fentanyl từ da giải thích
cho sự biến mất chậm hơn của thuốc từ huyết thanh hơn là sự biến mất của thuốc
từ huyết thanh sau khi truyền tĩnh mạch. Người già, bệnh nhân bị suy nhược có
thể có độ thanh thải fentanyl giảm và do đó thuốc có thể có thời gian bán hủy
dài ở những bệnh nhân này. Fentanyl được chuyển hóa chủ yếu qua da. Khoảng 75%
fentanyl được bài tiết qua nước tiểu, hầu hết ở dạng chuyển hóa, ít hơn 10% ở
dạng không đổi. Khoảng 9% liều dùng được tìm thấy trong phân, chủ yếu ở dạng
chuyển hóa. Phần không gắn kết của fentanyl trong huyết thanh trung bình ở
khoảng 13% và 21%.
CHỈ ĐỊNH
Chú ý đề phòng :
Durogesic không nên dùng trong kiểm soát cơn
đau cấp và hậu phẫu bởi vì không có cơ hội chuẩn liều trong thời gian sử dụng
ngắn hạn và bởi vì suy hô hấp nặng và đe dọa tính mạng có thể xảy ra.
Thận trọng lúc dùng :
Bệnh nhân đã bị tác động phụ trầm trọng nên
được theo dõi suốt 24 giờ sau khi gỡ bỏ miếng dán Durogesic, bởi vì nồng độ
fentanyl trong huyết tương giảm dần và giảm khoảng 50% sau 17 giờ (từ 13 đến 22
giờ).
Suy hô hấp : Như các thuốc giảm đau opioid, vài
bệnh nhân có thể suy hô hấp đáng kể với Durogesic, bệnh nhân phải được quan sát
các tác động phụ này. Suy hô hấp có thể kéo dài sau khi gỡ bỏ miếng dán. Tần
suất suy hô hấp gia tăng khi liều Durogesic gia tăng (xem phần Quá liều liên
quan suy hô hấp). Thuốc tác động hệ thần kinh trung ương có thể gia tăng suy hô
hấp (xem phần Tương tác thuốc).
Bệnh phổi mãn tính : Durogesic có thể có nhiều
tác động phụ nghiêm trọng trên những bệnh nhân có bệnh lý phổi tắc nghẽn mạn
tính hoặc bệnh lý phổi khác. Ở những bệnh nhân này, thuốc opioid có thể làm giảm
hô hấp và gia tăng đề kháng thông khí.
Lệ thuộc thuốc : Sự dung nạp và lệ thuộc thuốc
về thể chất và tâm lý có thể xảy ra sau khi chỉ định lặp đi lặp lại thuốc
opioid. Sự nghiện sau khi chỉ định thuốc opioid thì rất hiếm khi xảy ra.
Áp lực nội sọ gia tăng : Durogesic nên được
dùng thận trọng trên bệnh nhân có thể nghi ngờ có tác động ứ đọng CO2
nội sọ, ví dụ những bệnh nhân có áp lực nội so gia tăng, ý thức thương tổn hoặc
hôn mê. Durogesic nên sử dụng thận trọng trên bệnh nhân có khối u não.
Bệnh tim : Fentanyl có thể gây chậm nhịp tim và
do đó nên chỉ định thận trọng trên bệnh nhân loạn nhịp tim chậm.
Bệnh gan : Vì Fentanyl được chuyển hoá thành
chất chuyển hóa bất hoạt ở gan, cho nên bệnh nhân có bệnh về gan có thể giảm
chuyển hóa thuốc. Trên bệnh nhân xơ gan, dược động học khi dán Durogesic đơn độc
không bị thay đổi mặc dầu nồng độ huyết thanh có khuynh hướng cao hơn ở những
bệnh nhân này. Bệnh nhân thương tổn gan nên được giám sát cẩn thận dấu hiệu độc
tính fentanyl và nên giảm liều fentanyl.
Bệnh thận : Ít hơn 10% fentanyl được bài tiết ở
dạng không đổi qua thận, và không giống morphine, có những chất chuyển hoá có
hoạt tính chưa được biết được bài tiết qua thận. Dữ liệu đạt được bằng chích
fentanyl trên bệnh nhân suy thận đề nghị rằng thể tích phân bố của fentanyl có
thể thay đổi bởi sự thẩm phân. Điều này có thể ảnh hưởng nồng độ huyết thanh nếu
bệnh nhân suy thận dùng fentanyl, họ phải được quan sát cẩn thận dấu hiệu độc
tính fentanyl và nếu cần thiết nên giảm liều fentanyl.
Ứng dụng trên bệnh nhân bị sốt/ ảnh hưởng bởi
nguồn ngoại nhiệt : Dược động học đề nghị rằng nồng độ fentanyl trong máu có thể
gia tăng khoảng 1/3 nếu nhiệt độ da gia tăng đến 40oC. Do đó, bệnh
nhân sốt nên được giám sát các tác động phụ của opioid. Và nếu cần thiết nên
điều chỉnh liều Durogesic. Tất cả bệnh nhân nên được khuyên tránh để phần cơ thể
được dán miếng dán tiếp xúc với nguồn nhiệt bên ngoài trực tiếp, ví dụ : đèn
nhiệt, tắm nắng, chai nước nóng, tắm hơi và tắm nơi suối nước khoáng, nước xoáy
nóng.
Tác động trên khả năng vận hành máy móc :
Durogesic có thể gây ra ảnh hưởng khả năng trí tuệ hoặc thể lực để thực hiện các
hoạt động nguy hiểm, ví dụ : lái xe hoặc vận hành máy móc.
Sử dụng trên phụ nữ có thai hoặc cho con bú :
Độ an toàn của fentanyl trên phụ nữ có thai chưa được thiết lập. Durogesic không
nên dùng cho phụ nữ có khả năng mang thai mà không có biện pháp tránh thai đầy
đủ, trừ phi có sự cân nhắc giữa lợi ích dùng thuốc và nguy cơ có thể có của
thuốc. Fentanyl được bài tiết qua sữa mẹ do đó không nên sử dụng Durogesic cho
các bà mẹ cho con bú.
Sử dụng trên trẻ em : Hiệu quả và an toàn của
Durogesic trên trẻ em chưa được thiết lập.
Sử dụng trên người già : Dữ liệu từ các nghiên
cứu phase IV với fentanyl đề nghị rằng bệnh nhân lớn tuổi có thể giảm độ thanh
thải, thời gian bán hủy dài và những bệnh nhân này có thể nhạy cảm đối với thuốc
hơn người trẻ tuổi. Trong những nghiên cứu Durogesic, người lớn tuổi có dược
động học fentanyl không khác biệt đáng kể so sánh với người trẻ mặc dù nồng độ
thuốc trong huyết thanh có khuynh hướng cao hơn. Người lớn tuổi nên được quan
sát cẩn thận dấu hiệu độc tính fentanyl và nếu cần thiết thì giảm liều.
TƯƠNG TÁC THUỐC
Sử dụng đồng thời với các thuốc ức chế hệ thần
kinh trung ương bao gồm : opioid, giải lo âu, an thần, thuốc gây mê, chống loạn
thần, dãn cơ, kháng histamin gây ngủ và rượu có thể tăng thêm tác động ức chế:
giảm thông khí, hạ huyết áp và ngủ sâu hay hôn mê xảy ra. Do đó, việc sử dụng
bất kỳ các thuốc này phối hợp với Durogesic cần phải theo dõi và quan sát đặc
biệt. Fentanyl, thuốc có độ thanh thải cao, được chuyển nhanh và hoàn toàn chủ
yếu bởi men CYP 3A4.
Itraconagole (thuốc ức chế CYP 3A4 hoạt tính
mạnh) làm giảm độ thanh thải của fentanyl tiêm tĩnh mạch 2/3 lần. Sử dụng đồng
thời các chất ức chế CYP 3A4 hoạt tính mạnh, ví dụ ritonavir với fentanyl có thể
gia tăng nồng độ fentanyl, điều này có thể gia tăng hoặc kéo dài cả hai tác động
điều trị và tác động phụ và có thể gây suy hô hấp trầm trọng. Đối với tình trạng
này, cần quan tâm và quan sát bệnh nhân chuyên biệt.
TÁC DỤNG NGOẠI Ý
Phản ứng phụ trầm trọng nhất, như các thuốc
opioid mạnh, là giảm thông khí. Các phản ứng phụ khác liên quan đến nhóm thuốc
opioid bao gồm : buồn nôn, nôn, táo bón, hạ HA, chậm nhịp tim, buồn ngủ, nhức
đầu, nhầm lẫn, ảo giác, sảng khoái, ngứa, đổ mồ hôi và bí tiểu.
Phản ứng da, ví dụ : mẩn đỏ, ban đỏ và ngứa
thỉnh thoảng được ghi nhận. Các phản ứng phụ này thường giải quyết trong vòng 24
giờ sau khi gỡ bỏ miếng dán.
Triệu chứng rút lui opioid (ví dụ : buồn nôn,
nôn, tiêu chảy, lo lắng và cảm giác lạnh) có thể có ở vài bệnh nhân sau khi
chuyển đổi từ các thuốc giảm đau opioid trước đó sang Durogesic.
LIỀU LƯỢNG và CÁCH DÙNG
Liều lượng :
Liều Durogesic nên dựa vào thể trạng của từng
bệnh nhân và nên được đánh giá định kỳ đều đặn sau khi dán.
Chọn liều khởi đầu : Kích thước của miếng dán
Durogesic khởi đầu nên dựa vào tiền sử dùng thuốc opioid của bệnh nhân, bao gồm
mức độ dung nạp opioid nếu có, cũng như là bệnh cảnh lâm sàng hiện tại và tình
trạng sử dụng thuốc của bệnh nhân.
Bệnh nhân chưa từng dùng opioid : Nên dùng liều
Durogesic hàm lượng nhỏ nhất 25 mg/giờ
khi khởi đầu.
Bệnh nhân đã dung nạp opioid : Chuyển đổi từ
các thuốc nhóm opioid dạng uống hoặc dạng tiêm sang Durogesic, trình tự như sau:
Tính nhu cầu dùng thuốc giảm đau 24 giờ trước
đó.
Chuyển số lượng này sang liều giảm đau tương
đương Morphin uống bằng bảng I (xem bảng I).
Tất cả liều uống và tiêm bắp trong bảng này
được đánh giá tương đương với liều 10 mg morphin tiêm bắp cho hiệu quả giảm đau.
Bảng 2 trình bày các khoảng liều của Morphin
uống 24 giờ được chuyển đổi thành liều Durogesic tương ứng. Sử dụng bảng này để
tính liều Durogesic tương ứng dựa vào liều morphin uống 24 giờ đã được tính toán
(xem bảng II).
Không thể đánh giá sơ khởi tác động giảm đau
tối đa của Durogesic trong vòng 24 giờ sau khi dán trên cả hai bệnh nhân chưa
dùng opioid và đã dung nạp opioid. Sự chậm trễ này là do sự gia tăng dần dần
nồng độ fentanyl trong huyết thanh trong vòng 24 giờ sau khi dán liều khởi đầu.
Do đó, điều trị giảm đau trước đó nên được giảm bỏ dần dần sau khi dán liều khởi
đầu Durogesic cho đến khi đạt được hiệu quả giảm đau của Durogesic.
| Bảng I. Tương quan về liều |
| Tên thuốc |
Tương quan
về liều (mg) |
| IM* |
Uống |
| Morphine |
10,0 |
30 (liều lặp lại)** |
| 60 (liều đơn, gián đoạn) |
| Hydromorphone |
1,5 |
7,5 |
| Methadone |
10,0 |
20 |
| Oxycodone |
15,0 |
30 |
| Levorphanol |
2,0 |
4 |
| Oxymorphone |
1,0 |
10 (đường trực tràng) |
| Heroine |
5,0 |
60 |
| Meperidine |
75,0 |
- |
| Codeine |
130,0 |
200 |
| Buprenorphine |
0,4 |
0,8 (ngậm dưới lưỡi) |
* Dựa trên liều đơn đã được nghiên cứu,
trong đó liều IM của mỗi thuốc liệt kê bên trên đã được đối chiếu với morphine
để thiết lập mối tương quan. Liều uống là liều được khuyến cáo khi thay đổi từ
đường tiêm sang đường uống.
** Tỉ lệ giữa đường uống/đường IM là 1/3 đối với morphine, dựa trên kinh
nghiệm điều trị lâm sàng ở những bệnh nhân bị đau mãn tính.
| Bảng II. Liều khuyến cáo
của Durogesic so với liều hàng ngày của morphine |
| Morphine đường uống, liều trong 24 giờ
(mg/ngày) |
Liều Durogesic (mg/giờ) |
| 45-134 |
25 |
| 135-224 |
50 |
| 225-314 |
75 |
| 315-404 |
100 |
| 405-494 |
125 |
| 495-584 |
150 |
| 585-674 |
175 |
| 675-764 |
200 |
| 765-854 |
225 |
| 855-944 |
250 |
| 945-1034 |
275 |
| 1035-1124 |
300 |
* Trong thử nghiệm lâm sàng, các số liệu về
liều hàng ngày của morphine đường uống được sử dụng để làm cơ sở chuyển đổi sang
liều Durogesic
Chuẩn liều điều trị duy trì : Miếng dán Durogesic nên được
thay thế mỗi 72 giờ. Liều nên được điều chỉnh cho từng bệnh nhân cho đến khi đạt
được hiệu quả giảm đau. Nếu hiệu quả giảm đau chưa đủ sau khi dán liều khởi đầu,
có thể tăng liều sau 3 ngày. Sau đó, có thể điều chỉnh liều mỗi 3 ngày. Chuẩn
liều nên được gia tăng mỗi lần 25
mg/giờ
(morphin uống 90 mg/ngày = Durogesic 25
mg/giờ) và
đánh giá tình trạng đau của bệnh nhân. Có thể dùng nhiều hơn 1 miếng dán
Durogesic khi liều trên 100
mg/giờ. Bệnh
nhân có thể yêu cầu thêm các thuốc giảm đau tác động ngắn từng thời kỳ cho các
cơn đau bộc phát. Một vài bệnh nhân cần phải dùng thêm các phương pháp chỉ định
opioid khác khi liều Durogesic vượt quá 300
mg/giờ.
Ngưng điều trị Durogesic : Nếu cần thiết phải
ngưng Durogesic, việc thay thế bằng các opioid khác nên dần dần, bắt đầu ở liều
thấp và gia tăng dần dần. Điều này là do nồng độ fentanyl giảm dần dần sau khi
gỡ bỏ miếng dán, nồng độ fentanyl trong máu giảm 50% khoảng 17 giờ hoặc lâu hơn.
Nói chung, ngưng điều trị thuốc giảm đau opioid nên dần dần để ngăn ngừa triệu
chứng rút lui thuốc.
Hướng dẫn sử dụng :
Nên dán Durogesic ở vùng da không kích ứng, bề
mặt phẳng, ví dụ ngực, lưng, mạn sườn hoặc cánh tay của phần trên cơ thể. Nên
tỉa bớt lông (không cạo) ở vùng da trước khi dán. Phải làm sạch vùng da trước
khi dán bằng nước sạch. Không dùng xà phòng, dầu dung dịch, cồn hoặc bất kỳ tác
nhân nào khác vì có thể gây kích ứng da hoặc làm thay đổi đặc tính da. Để cho da
khô trước khi dán.
Durogesic nên dán liền ngay khi bóc bao bì. Nên
ấn miếng dán khoảng 30 giây để đảm bảo miếng dán được bám chặt, đặc biệt xung
quanh rìa. Durogesic được mang liên tục đến 72 giờ. Nếu cần giảm đau nhiều hơn
72 giờ, miếng dán mới nên được dán ở nơi khác sau khi gỡ bỏ miếng dán trước đó.
Thận trọng khi sử dụng :
Miếng dán Durogesic không được cắt, phân chia
hay hủy bằng bất kỳ cách nào bởi vì sẽ dẫn đến sự phóng thích fentanyl không còn
kiểm soát.
Hủy miếng dán : Miếng dán đã sử dụng nên được
gấp lại để 2 mặt tự dính vào nhau và hủy đi. Miếng dán không sử dụng nữa nên gửi
lại khoa Dược bệnh viện.
QUÁ LIỀU