Hepasel là
dimethyl-4,4'-dimethoxy-5,6,5',6'-dimethylenedioxy-biphenyl-2,2'-dicarboxylate
(DDB). Đây là một chất tổng hợp tương tự với schizandrin C, được chiết xuất từ
Fructus Schizandrae chinensis, một dược thảo cổ truyền của Trung Quốc. Hepasel ở
dạng tinh thể trắng, có công thức là C20H16O10
và có phân tử lượng là 418,96.
DƯỢC LỰC
Biphenyl-dimethyl-dicarboxylate (DDB) đã được
chứng minh qua các thử nghiệm trên chuột và thỏ là có tác động bảo vệ chống lại
các tổn thương ở gan gây bởi các chất hóa học, như prednisolone, carbon
tetrachlorid, thioacetamide và D-galactosamine. DDB ức chế sự peroxid hóa lipid
của microsom gan gây bởi carbon tetrachlorid và ức chế liên kết cộng hóa trị của
carbon tetrachlorid gắn vào các lipid ở microsom. Ngoài ra, DDB còn làm tăng
đáng kể khả năng giải độc của gan và chống lại tác động gây đột biến các chất
hóa học có khả năng gây ung thư, như aflatoxin B và benz(a)pyrene. Độc tính của
DDB rất thấp. Không có tác động gây quái thai hay đột biến nào được ghi nhận.
Hiệu quả lâm sàng : Giảm nhanh SGPT : 80-85%
bệnh nhân có mức SGPT tăng cao đã trở về mức bình thường sau khi điều trị.
Làm cho albumin huyết thanh và globulin (A/G)
trở về các giá trị bình thường và cải thiện kết quả của Thymol Test (TFT).
Làm giảm các giá trị tăng cao của
a-fetal
protein (a-FP)
và bilirubin với kết quả điều trị tốt được ghi nhận trên 80% bệnh nhân.
Làm giảm các triệu chứng, như đau gan, mệt mỏi,
trướng bụng và chán ăn.
Cải thiện các thay đổi bệnh lý ở gan như thoái
hóa ái toan, thể ái toan, hoại tử gan khu trú và rải rác, được kiểm tra qua các
xét nghiệm sinh thiết gan được thực hiện trước và sau khi điều trị.
Hepasel có hiệu quả tốt trong việc điều trị
viêm gan do thuốc (thuốc trị ung thư, thuốc kháng lao...).
Tác động làm giảm SGPT của DDB được ghi nhận là
tốt hơn nhiều so với silymarin và glycirrhizin.
Một nghiên cứu lâm sàng so sánh tác dụng giữa
Nissel và Hepasel cho thấy từ tháng thứ 3 thì kết quả của hai nhóm không khác
biệt gì lắm (p < 0,05). Sau 6 tháng điều trị, vẫn nhận thấy hai nhóm có hiệu quả
điều trị tương đương nhau (p > 0,05). Do viên nang được hấp thu tốt hơn (gấp 3
lần viên nén), nên dù hàm lượng chỉ bằng 1/3 viên nén (7,5 mg/25 mg), số lượng
thuốc hấp thu của hai viên này vẫn như nhau.
CHỈ ĐỊNH