Losartan (Losartan potassium) là thuốc hàng đầu
của nhóm thuốc mới dạng uống có tác động đối kháng chuyên biệt thụ thể
angiotensin II (type AT1), được chỉ định trong điều trị tăng huyết áp.
Losartan là thuốc hàng đầu trong nhóm thuốc mới
trị tăng huyết áp, là chất đối kháng chuyên biệt thụ thể angiotensin II (type
AT1). Angiotensin II là chất có hiệu lực gây co mạch và là hormone có hoạt tính
nguyên phát của hệ thống renin-angiotensin-aldosterone, đóng vai trò chính trong
sinh lý bệnh của tăng huyết áp. Tác động ổn định nội môi tim mạch của
angiotensin II được thể hiện thông qua thụ thể AT1. Losartan là một hoạt chất
tổng hợp có hiệu lực, dạng uống, gắn kết có chọn lọc với các thụ thể AT1. Trên
in vitro và in vivo, cả losartan và chất chuyển hóa có hoạt tính dược lý của nó
(E-3174) ngăn chặn tất cả các tác động về mặt sinh lý có liên quan đến
angiotensin II, bao gồm tác động gây co mạch, giữ muối-nước và kích thích giao
cảm. Điều này dẫn đến giảm huyết áp. Losartan không có tác động đối kháng và
không gắn kết hay chẹn các thụ thể của các hormone khác hay các kênh ion quan
trọng trong sự điều hòa tim mạch.
DƯỢC ĐỘNG HỌC
Sau khi uống thuốc, losartan được hấp thu tốt
và chịu sự chuyển hóa khi qua gan lần đầu ; sinh khả dụng toàn thân xấp xỉ 33%.
Khoảng 14% của liều uống của losartan được chuyển thành chất chuyển hóa có hoạt
tính, E-3174. Nồng độ đỉnh trung bình trong huyết tương của losartan đạt được
sau 1 giờ và của chất chuyển hóa E-3174 là 3-4 giờ. Trong khi nồng độ tối đa
trong huyết tương của E-3174 cao khoảng gấp đôi so với của losartan, diện tích
dưới đường cong (AUC) của chất chuyển hóa cũng cao gấp 4-8 lần như của losartan.
Cả losartan và chất chuyển hóa gắn kết cao với protein huyết tương, chủ yếu là
albumin, với tỉ lệ tự do trong huyết tương đối với từng chất là 1,3% và 0,2%.
Gắn kết với protein huyết tương hằng định với mọi nồng độ của thuốc trong máu
khi dùng liều khuyến cáo. Khi losartan được dùng đường uống, có khoảng 4% liều
dùng được bài tiết ra nước tiểu dưới dạng không đổi và khoảng 6% dưới dạng chất
chuyển hóa có hoạt tính. Losartan và các chất chuyển hóa của nó cũng được chuyển
hóa đáng kể qua mật. Losartan cũng được ghi nhận có hiệu quả tốt trên huyết động
ở bệnh nhân bị suy tim. Giảm áp lực mao mạch phổi bít và giảm nhịp tim cũng được
ghi nhận ở bệnh nhân suy tim dùng losartan.
CHỈ ĐỊNH
Giảm thể tích nội mạch :
Bệnh nhân bị giảm thể tích nội mạch (như khi
dùng thuốc lợi tiểu liều cao), có thể xảy ra triệu chứng tụt huyết áp. Trường
hợp này cần được điều chỉnh ưu tiên trước khi bắt đầu dùng losartan, hay dùng
losartan khởi đầu với liều thấp.
Suy gan :
Các dữ liệu về dược động học cho thấy nồng độ
của losartan trong huyết tương tăng đáng kể khi dùng cho ở bệnh nhân bị xơ gan.
Nên cân nhắc dùng liều thấp ở bệnh nhân có tiền sử bị suy gan.
Hẹp động mạch thận :
Các thuốc khác có tác động lên hệ thống
renin-angiotensin-aldosterone có thể làm tăng urê máu và creatinine huyết thanh
ở bệnh nhân bị hẹp động mạch thận ở hai bên hay hẹp động mạch thận ở bệnh nhân
chỉ có một thận còn hoạt động. Trong khi chờ xác nhận, điều này cũng có thể xảy
ra đối với các thuốc đối kháng thụ thể angiotensin II.
LÚC CÓ THAI và LÚC NUÔI CON
BÚ
Mặc dầu kinh nghiệm dùng losartan trên phụ nữ
có thai còn hạn chế, các thử nghiệm trên động vật với losartan đã cho thấy thuốc
này làm tổn thương và chết phôi và thú con mới sinh, cơ chế được hiểu là do tác
động của thuốc trên hệ thống renin-angiotensin-aldosterone. Ở người, sự tưới máu
đến thận của bào thai, độc lập với sự phát triển của hệ thống
renin-angiotensin-aldosterone, bắt đầu trong 3 tháng thứ nhì. Nếu dùng thuốc
trong 3 tháng thứ nhì và 3 tháng cuối của thai kỳ, thuốc gây tác động trực tiếp
lên hệ thống renin-angiotensin-aldosterone, có thể làm tổn thương và thậm chí
làm chết bào thai trong tiến trình phát triển của bào thai. Losartan chống chỉ
định dùng trong thai kỳ, và nếu phát hiện có thai trong khi đang điều trị, phải
ngưng losartan ngay lập tức. Hiện chưa biết losartan có được bài tiết qua sữa mẹ
hay không. Do thuốc có thể gây những tác dụng bất lợi cho trẻ bú mẹ, nên cân
nhắc hoặc ngưng thuốc hay ngưng cho con bú mẹ dựa trên tầm quan trọng của việc
điều trị cho người mẹ. Tính an toàn và hiệu lực của thuốc khi dùng cho trẻ em
chưa được xác nhận.
TƯƠNG TÁC THUỐC
Liều khởi đầu và liều duy trì của losartan là
25 mg hay 50 mg, ngày 1 lần ở đa số bệnh nhân, trong bữa ăn hay xa bữa ăn. Hiệu
lực hạ áp tối đa đạt được sau khi khởi đầu điều trị từ 3 đến 6 tuần. Một số bệnh
nhân có thể phải cần đến liều cao 100 mg, ngày 1 lần.
Người già :
- Dưới 75 tuổi : không cần phải chỉnh liều khởi
đầu.
- Trên 75 tuổi : hiện nay kinh nghiệm điều trị
còn hạn chế ở nhóm tuổi này ; nên dùng liều khởi đầu thấp hơn 25 mg, ngày 1 lần.
Suy thận :
Không cần phải chỉnh liều khởi đầu ở bệnh nhân
bị suy thận nhẹ (thanh thải creatinine 20-50 ml/phút). Bệnh nhân bị suy thận từ
vừa đến nặng (thanh thải creatinine < 20 ml/phút) hay bệnh nhân chạy thận nhân
tạo, nên dùng liều khởi đầu thấp hơn 25 mg, ngày 1 lần.
Giảm thể tích nội mạch :
Ở bệnh nhân bị giảm thể tích nội mạch (như khi
dùng thuốc lợi tiểu liều cao), có thể xảy ra triệu chứng tụt huyết áp. Trường
hợp này cần được điều chỉnh ưu tiên trước khi bắt đầu dùng losartan, hay dùng
losartan khởi đầu với liều thấp.
QUÁ LIỀU