Salbutamol
[1-(4-(RS)-hydroxy-3-hydroxymethylphenyl)-2-(t-butylamino) ethanol] là chất chủ
vận thụ thể adrenergic b2
(b2-adrenoceptor
agonist) có tác dụng trên cơ trơn và cơ xương, gồm có : dãn phế quản, dãn cơ tử
cung và run. Tác dụng dãn cơ trơn tùy thuộc vào liều dùng và được cho rằng xảy
ra thông qua hệ thống adenyl cyclase - AMP vòng, với việc thuốc gắn vào thụ thể
b-adrenergic
tại màng tế bào gây ra sự biến đổi ATP thành AMP vòng làm hoạt hóa protein
kinase. Điều này dẫn đến sự phosphoryl hóa các protein và cuối cùng làm gia tăng
calci nội bào loại liên kết ; calci nội bào ion hóa bị giảm bớt gây ức chế liên
kết actin-myosin, do đó làm dãn cơ trơn.
Thuốc chủ vận
b2 như
salbutamol cũng có tác dụng chống dị ứng bằng cách tác dụng lên dưỡng bào làm ức
chế sự phóng thích các hóa chất trung gian gây co thắt phế quản như histamin,
yếu tố hóa ứng động bạch cầu đa nhân trung tính (NCF) và prostaglandin D2.
Salbutamol làm dãn phế quản ở cả người bình
thường lẫn bệnh nhân suyễn hay bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD) sau khi uống.
Salbutamol còn làm gia tăng sự thanh thải tiêm mao nhầy (đã được chứng minh ở
bệnh nhân COPD lẫn ở người bình thường).
Salbutamol kích thích các thụ thể
b2 gây ra các
tác dụng chuyển hóa lan rộng: tăng lượng acid béo tự do, insulin, lactat và
đường ; giảm nồng độ kali trong huyết thanh.
Salbutamol có lẽ là chất có hiệu lực và an toàn
nhất trong số các thuốc dãn phế quản loại giống giao cảm.
DƯỢC ĐỘNG HỌC
Duralyn-CR là một chế phẩm đa đơn vị với nhiều
viên hoàn nhỏ. Mỗi hoàn gồm một lõi với nhiều lớp thuốc và màng đặc biệt xếp xen
kẽ bao quanh có khả năng kiểm soát tốc độ khuếch tán của thuốc bên trong. Sau
khi uống vào, vỏ nang gelatin tan ra nhanh chóng và phóng thích các viên hoàn
nhỏ vào trong dạ dày. Nước thấm thấu vào các viên hoàn nhỏ ngay từ dạ dày và hòa
tan thuốc cho đến khi bão hòa. Các viên hoàn nhỏ sau đó được rải đều dọc theo
ống ruột và màng thẩm tách đảm bảo cho thuốc khuếch tán chậm và đều ra lòng ruột
xung quanh, độc lập với thành phần chứa trong ruột. Tiến trình này diễn ra đều
đặn, chậm rãi hết lớp này đến lớp khác cho đến khi thuốc đã được khuếch tán ra
hết, các viên hoàn nhỏ xẹp đi và được đào thải ra ngoài. Thuốc được phóng thích
đều dọc suốt ống tiêu hóa dẫn đến sự hấp thụ thuốc đều và nồng độ trị liệu của
salbutamol trong huyết tương được duy trì đều trong suốt 12 giờ sau chỉ một liều
uống. Không có tình trạng thuốc phóng thích ào ạt.
Salbutamol được hấp thụ dễ dàng qua hệ tiêu
hóa. Salbutamol được chuyển hóa đáng kể trước khi vào máu. Chất chuyển hóa chủ
yếu là liên hợp sulphat là chất dường như được hình thành trong niêm mạc ruột và
bất hoạt. Khoảng 10% thuốc lưu hành trong máu ở dưới dạng gắn với protein.
58-78% lượng thuốc có gắn phóng xạ xuất hiện trong nước tiểu trong vòng 24 giờ
và 65-84% trong 72 giờ sau khi uống thuốc. 34-47% thuốc gắn phóng xạ xuất hiện
trong nước tiểu dưới dạng liên hợp và khoảng một nửa lượng này nguyên dạng. Đã
chứng minh thuốc qua được nhau thai in vitro lẫn in vivo.
CHỈ ĐỊNH
Nên dùng salbutamol cách thận trọng đối với
bệnh nhân tim mạch (nhất là suy động mạch vành, loạn nhịp tim và tăng huyết áp)
; bệnh nhân kinh giật, cường giáp hay đái tháo đường; và đối với bệnh nhân đôi
khi có phản ứng với các amin giống giao cảm.
Phụ nữ mang thai : Dù không có bằng
chứng gây quái thai, nếu thật sự cần thiết, chỉ nên dùng thuốc trong ba tháng
đầu của thai kỳ.
Phụ nữ cho con bú : Chưa rõ thuốc có
được bài tiết qua sữa mẹ hay không. Do khả năng sinh khối u của salbutamol quan
sát được trong các nghiên cứu trên súc vật, cần phải quyết định hoặc ngưng cho
con bú hoặc tiếp tục dùng thuốc.
Trẻ em : Tính an toàn và hiệu lực của
thuốc đối với trẻ em dưới 6 tuổi chưa được chứng minh.
TƯƠNG TÁC THUỐC
Tác dụng phụ được giảm thiểu do dạng bào chế áp
dụng công nghệ DRCM. Nhìn chung, salbutamol được dung nạp tốt và các tác dụng
độc nguy hiểm là hiếm gặp. Các phản ứng bất lợi của salbutamol, nếu có, tương tự
với các thuốc giống giao cảm khác, tuy nhiên với salbutamol tỷ lệ phản ứng trên
tim mạch thấp hơn.
Tác dụng phụ thường gặp nhất là : bứt rứt và
run. Các phản ứng khác có thể có: nhức đầu, tim nhanh và hồi hộp, vọp bẻ, mất
ngủ, buồn nôn, suy nhược và chóng mặt. Hiếm gặp : nổi mề đay, phù mạch, nổi mẩn
và phù hầu họng. Ở một số bệnh nhân, salbutamol có thể gây biến đổi về tim mạch
(mạch, huyết áp, một số triệu chứng hoặc điện tâm đồ). Nhìn chung, các phản ứng
phụ chỉ thoáng qua và thường không cần phải ngưng điều trị với salbutamol.
LIỀU LƯỢNG và CÁCH DÙNG
Các triệu chứng có thể có khi dùng quá liều là
do kích thích thụ thể bêta quá mức, như đã nêu ở mục Tác dụng ngoại ý. Có thể có
: cơn gồng cứng, đau họng, tăng hay giảm huyết áp, tim nhanh, loạn nhịp tim, bứt
rứt, nhức đầu, run, khô miệng, hồi hộp, buồn nôn, chóng mặt, suy nhược, khó chịu
và mất ngủ. Có thể có hạ kali máu.
Xử trí khi quá liều : ngưng dùng salbutamol và
điều trị triệu chứng.