Tính chất vật lý :
- Trọng lượng phân tử 184,5.
- Nhiệt độ sôi ở 760 mmHg là 48,5oC.
- Chỉ số khúc xạ n0 1,2990-1,3005.
- Tỷ trọng ở 25oC là 1,496.
Áp suất hơi bão hòa (mmHg) :
- Ở nhiệt độ 20oC là 238.
- Ở nhiệt độ 25oC là 295
- Ở nhiệt độ 30oC là 367
- Ở nhiệt độ 35oC là 450
Hệ số hòa tan ở 37oC :
- Nước / Khí : 0,61.
- Máu / Khí : 1,43
- Dầu / Khí : 90,8.
Hệ số hòa tan ở 25oC đối với cao
su và nhựa tổng hợp :
- Cao su ống dẫn / Khí : 62,0.
- Cao su butyl / Khí : 75,0.
- Nhựa PVC / Khí : 110,0.
- Nhựa PE / Khí : ca 2,0.
- Nhựa Polyurethane / Khí : ca 1,4.
- Nhựa Polyolefin / Khí : ca 1,1.
- Nhựa Butyl acetate / Khí : ca 2,5.
Độ tinh khiết đo bằng phép sắc ký khí :
trên 99,9%.
Khả năng bốc cháy trong O2 và N2O
:
Ở 9J/giây và 23oC : Không thể bốc
cháy.
Ở 900J/giây và 23oC : Không thể bốc
cháy ở những nồng độ thường dùng để gây mê.
Nồng độ tối thiểu trong phế nang (MAC) :
| Tuổi |
100% O2 |
70% N2O |
| 26 +/-1 4 |
1,28 |
0,56 |
| 44 +/- 7 |
1,15 |
0,50 |
| 64 +/- 5 |
1,05 |
0,37 |
Forane là một dung dịch không màu, bền vững mà
không phải thêm vào chất ổn định. Forane có mùi hơi cay giống ether. Bằng phép
sắc ký khí người ta không thấy sự thay đổi thành phần của những mẫu đựng trong
những chai trong suốt đem phơi gián tiếp dưới ánh sáng mặt trời trong 5 năm hay
chiếu tia cực tím trong 30 giờ.
Không làm tiêu hao chất kiềm khi cho Forane
tiếp xúc trên 6 tháng với sodium methoxide nồng độ 1N trong rượu methanol, điều
này chứng minh rằng Forane có độ bền cao đối với chất kiềm mạnh. Forane không bị
phân hủy khi dùng chung với vôi hút thán khí và không làm ăn mòn nhôm, thiếc,
thau, đồng, sắt.
DƯỢC LỰC
Khởi mê nhanh và đặc biệt là hồi tỉnh sớm. Mặc
dù mùi hơi cay có thể giới hạn tốc độ khởi mê, nhưng thuốc không kích thích tăng
tiết nước bọt và dịch phế quản quá mức. Phản xạ hầu, thanh quản được làm giảm
một cách nhanh chóng. Độ mê thay đổi nhanh khi gây mê với Forane. Nhịp tim được
duy trì ổn định. Hô hấp sẽ suy giảm khi gây mê sâu và nên được theo dõi một cách
chặt chẽ.
Trong lúc khởi mê, huyết áp có chiều suy giảm
nhưng sẽ trở về bình thường khi phẫu thuật. Sự suy giảm trong khi duy trì mê có
liên quan trực tiếp với độ sâu khi gây mê, nhưng nhịp tim vẫn được duy trì ổn
định. Khi áp dụng phương pháp hô hấp chỉ huy và duy trì PaCO2 bình
thường, cung lượng tim được duy trì ổn định không phụ thuộc vào việc tăng độ mê,
đó là nhờ cơ chế tăng nhịp tim bù trừ. Khi để bệnh nhân tự thở, sự ứ đọng CO2
có thể làm tăng nhịp tim và xuất lượng tim quá mức.
Sự tưới máu được duy trì không đổi trong khi
gây mê nhẹ với Forane, nhưng có khuynh hướng tăng khi gây mê ở mức độ sâu hơn.
Sự gia tăng áp lực dịch não tủy có thể được ngăn chận hoặc làm giảm bớt bằng
cách tăng thông khí trước và trong khi gây mê.
Những thay đổi trên điện não đồ và hiện tượng
co giật cực kỳ hiếm xảy ra khi gây mê với Forane.
Forane làm xuất hiện sự nhạy cảm của cơ tim đối
với adrenaline trong một phạm vi nhỏ hơn so với Enflurane. Mức giới hạn khi tiêm
dưới da được đề nghị lên đến 50 ml dung dịch adrenaline 1/200.000 vẫn không khởi
phát những cơn loạn nhịp thất khi bệnh nhân được gây mê với Forane.
Tình trạng dãn cơ vừa đủ trong phẫu thuật bụng
ở độ mê bình thường, nhưng sẽ dãn cơ nhiều hơn khi dùng phối hợp với những liều
nhỏ thuốc dãn cơ tiêm tĩnh mạch. Tất cả những thuốc dãn cơ thường dùng đều được
phát huy tác dụng bởi Forane, hiệu quả rõ ràng nhất đối với thuốc giãn cơ không
khử cực.
Neostigmine tác dụng ngược lại với thuốc dãn cơ
không khử cực nhưng không làm ảnh hưởng đến tính chất dãn cơ của Forane. Tất cả
những thuốc dãn cơ thường dùng đều tương hợp với Forane.
Forane có thể được dùng để dẫn đầu và duy trì
trong gây mê toàn diện. Chưa có dữ liệu đầy đủ có giá trị để xác định vai trò
của Forane trong thai kỳ, gây mê sản khoa hơn là trong gây mê mổ lấy thai.
DƯỢC ĐỘNG HỌC
Không nên dùng khi đã biết bệnh nhân nhạy cảm
với Forane hoặc có tiền căn sốt cao ác tính khi gây mê với Forane.
Vì độ mê có thể thay đổi nhanh chóng và dễ dàng
với Forane, chỉ nên dùng những bình bay hơi mà có thể dự đoán chính xác và hợp
lý lượng thuốc mê gây ra, hoặc áp dụng những kỹ thuật để có thể theo dõi sát
nồng độ khí hít vào, thở ra trong suốt cuộc gây mê.
Có thể áp dụng sự suy giảm huyết áp và hô hấp
khi gây mê sâu trong một vài chỉ định. Kinh nghiệm lâm sàng khi dùng Forane
không ghi nhận được bằng chứng gây độc cho gan, ngay cả sau khi dùng kéo dài.
Tuy nhiên kinh nghiệm trong việc gây mê lặp lại nhiều lần bằng Forane bị giới
hạn và chưa chứng minh được ảnh hưởng của vấn đề này lên chức năng gan.
Cũng như với những thuốc gây mê họ Halogen
khác, Forane phải được chú ý khi dùng cho những bệnh nhân có tăng áp lực nội sọ.
Trong những trường hợp này nên tăng thông khí cho bệnh nhân.
Forane phát huy tác dụng của thuốc dãn cơ không
khử cực.
LÚC CÓ THAI và LÚC NUÔI CON
BÚ
Những nghiên cứu về sinh sản ở loài vật đã được
đưa ra sau khi lặp lại nhiều lần việc gây mê với Forane.
Nghiên cứu trên chuột đã chứng minh rằng thuốc
không ảnh hưởng lên khả năng thụ thai, thai kỳ, lúc chuyển dạ và khả năng sống
sót của chuột con.
Chưa có bằng chứng phát hiện thuốc gây nên dị
tật bẩm sinh.
Kết quả thu được cũng tương tự khi thí nghiệm
trên thỏ.
Sự tương quan của những nghiên cứu này trên con
người thì chưa được biết rõ. An toàn trong thai kỳ chưa được xác định. So sánh
sự mất máu ở những bệnh nhân sinh non được gây mê với Forane và những thuốc mê
dạng hơi khác cho kết quả tương tự. Chưa có những dự liệu đầy đủ để xác định rõ
việc sử dụng Forane trong gây mê sản khoa ngoại trừ việc gây mê để mổ bắt thai.
TÁC DỤNG NGOẠI Ý
Loạn nhịp tim.
Tăng số lượng bạch cầu, ngay cả khi không có
những stress phẫu thuật.
Nồng độ fluor vô cơ / huyết thanh tăng ít trong
và sau khi gây mê với Forane do thuốc bị phân hủy trong cơ thể. Với nồng độ thấp
như vậy (trung bình 4,4 mmol/lít
như trong một nghiên cứu) khó có thể gây độc cho thận khi mà nó còn thấp dưới
ngưỡng cho phép.
Như những thuốc gây mê họ Halogen khác, sự suy
giảm hô hấp và tuần hoàn đã được ghi nhận.
Cần theo dõi sát huyết áp và hô hấp.
Cần có những phương tiện máy móc để chẩn đoán
và điều trị sự suy giảm hô hấp và huyết áp gây ra bởi gây mê sâu. Những tác dụng
ngoại ý trong giai đoạn hồi tỉnh (run, buồn nôn, ói mửa) ít gặp hơn các thuốc mê
khác.
LIỀU LƯỢNG và CÁCH DÙNG
Nên dùng bình bốc hơi đặc hiệu có chia độ dành
riêng cho Forane để kiểm soát nồng độ thuốc mê một cách chính xác.
Nồng độ tối thiểu trong phế nang (MAC) thay đổi
theo tuổi. Bảng sau đây cho thấy giá trị MAC trung bình tương ứng với từng nhóm
tuổi khác nhau :
| Tuổi |
MAC trung bình trong oxy |
| 0-1 tháng |
1,6% |
| 1-6 tháng |
1,87% |
| 6-12 tháng |
1,8% |
| 1-5 tuổi |
1,6% |
| Độ tuổi 20 |
1,28% |
| Độ tuổi 40 |
1,15% |
| Độ tuổi 60 |
1,05% |
Tiền mê :
Nên chọn lựa thuốc tiền mê tùy theo từng trường
hợp cụ thể, lưu ý đến tác dụng làm suy giảm hô hấp của Forane. Dùng những thuốc
anti-cholinergic là một vấn đề cân nhắc. Nhưng trong gây mê trẻ em lại được
khuyên nên dùng.
Khởi mê :
Đầu tiên sử dụng một loại thuốc ngủ tác dụng
ngắn hoặc một loại thuốc dẫn đầu gây mê tiêm đường tĩnh mạch và tiếp theo sau
bằng hỗn hợp hơi mê Forane.
Forane có thể được hòa lẫn với oxy hoặc hỗn hợp
O2 / N2O.
Nên bắt đầu khởi mê với Forane ở nồng độ 0,5%.
Nồng độ 1,5-3% thường chỉ nên kéo dài từ 7-10 phút trong gây mê.
Duy trì :
Để đạt độ mê cần thiết trong phẫu thuật có thể
duy trì ở nồng độ 1-2,5% Forane trong hỗn hợp O2 / N2O. Có
thể tăng thêm 0,5-1% Forane khi chỉ dùng với O2.
Để mổ lấy thai, 0,5-0,7% trong hỗn hợp O2
/ N2O là thích hợp để duy trì độ mê cần thiết.
Trong điều kiện bình thường huyết áp động mạch
trong suốt giai đoạn duy trì mê có khuynh hướng nghịch đảo với nồng độ Forane
trong phế nang. Huyết áp hạ thấp có thể gây ra bởi gây mê sâu và trong tình
huống này nên điều chỉnh bằng cách giảm bớt nồng độ Forane trong khi hít vào.
Đối với bệnh nhân lớn tuổi :
Cũng như những thuốc mê khác, cần giảm nồng độ
Forane khi duy trì mê cho bệnh nhân lớn tuổi.
Xem liên quan giữa MAC và tuổi ở bảng bên trên.
BẢO QUẢN