Vancomycin hydrochloride vô khuẩn, USP là một
kháng sinh glycopeptide ba vòng dẫn xuất từ Nocardia orientalis (trước đây gọi
là Streptomyces orientalis) và có công thức hóa học C66H75Cl2N9O24.HCl.
Trọng lượng phân tử là 1.486 ; 500 mg chất cơ bản tương đương với 0,34 mmol và 1
g chất cơ bản tương đương với 0,67 mmol.
Những lọ vô khuẩn có chứa 500 mg hoặc 1 g chất
cơ bản Vancomycin. Vancomycin hydrochloride dạng bột trắng nhờ dễ hòa tan. Có
thể chứa axit hydrochloric và/hoặc hydroxide natri để điều chỉnh pH. Khi được
tái tổ hợp trong nước vô khuẩn để tiêm, USP, thuốc trở thành một dung dịch trong
suốt có pH khoảng 4,0 (2,5 đến 4,5).
Dung dịch Vancomycin hydrochloride được tái tổ
hợp với nước vô khuẩn để tiêm, USP không có chất kìm hãm vi khuẩn và chỉ dành để
sử dụng như là thuốc tiêm liều duy nhất. Khi cần liều nhỏ hơn, phần không dùng
nên bỏ đi. Trước khi dùng cần pha loãng hơn nữa.
DƯỢC LỰC
Vi sinh học :
Tác dụng diệt khuẩn của Vancomycin chủ yếu là
do khả năng ức chế sự sinh tổng hợp vách tế bào. Ngoài ra, Vancomycin làm thay
đổi tính thấm màng tế bào và sự sinh tổng hợp RNA của vi khuẩn. Không có đề
kháng chéo giữa Vancomycin và những kháng sinh khác. Vancomycin có hoạt tính
chống Staphylococci, gồm Staphylococcus aureus và Staphylococcus epidermidis (kể
cả những chủng đề kháng Methicillin không đồng nhất) ; Streptococci, gồm
Streptococcus pyogenes, Streptococcus pneumoniae (kể cả những chủng đề kháng
penicillin), Streptococcus agalactiae, nhóm viridans, Streptococcus bovis, và
Enterococci (ví dụ Streptococcus faecalis) ; Clostridium difficile (ví dụ những
chủng sinh độc tố bao hàm viêm đại tràng giả mạc) ; và Diphtheroids. Những vi
sinh vật khác nhạy với Vancomycin trên thực nghiệm gồm Listeria monocytogenes,
Lactobacillus species, Actinomyceses species, Clostridium species, và Bacillus
species.
Trên thực nghiệm, Vancomycin không có hoạt tính
chống những trực khuẩn gram dương, mycobacteria, hoặc nấm.
Tác dụng hiệp lực : Việc phối hợp
Vancomycin và Aminoglycoside có tác dụng hiệp lực chống lại nhiều chủng S.
aureus, Streptococci nonenterococcal nhóm D, enterococci, và Streptococcus
species (nhóm viridans) trên thực nghiệm.
Những thử nghiệm tính nhạy cảm bằng đĩa :
Phương pháp chuẩn được Ủy ban Quốc gia về những chuẩn mực phòng xét nghiệm lâm
sàng mô tả đã được đề nghị sử dụng đĩa để thử nghiệm tính nhạy cảm của
Vancomycin. Nên biện luận những kết quả của các thử nghiệm tính nhạy cảm liều
chuẩn duy nhất với đĩa Vancomycin hydrochloride 30 g theo tiêu chuẩn sau. Những
vi khuẩn nhạy cảm tạo ra những vùng vô khuẩn có đường kính lớn hơn hoặc bằng 12
mm, cho biết vi khuẩn thử nghiệm chắc chắn đáp ứng với điều trị. Những vi khuẩn
tạo ra những vùng có đường kính 10 hoặc 11 mm được xem là nhạy cảm trung gian.
Những vi khuẩn trong phân loại này chắc chắn đáp ứng nếu nhiễm trùng hạn chế
trong mô hoặc dịch mà nơi đó đạt được nồng độ kháng sinh cao. Những vi khuẩn đề
kháng tạo ra những vùng có đường kính bằng hoặc nhỏ hơn 9 mm, cho biết nên chọn
lựa trị liệu khác.
Với phương pháp pha loãng đã được chuẩn hóa,
một vi khuẩn cô lập được xem là nhạy cảm nếu giá trị MIC của Vancomycin bằng
hoặc nhỏ hơn 4 mg/l. Những vi khuẩn được xem là đề kháng Vancomycin nếu MIC bằng
hoặc lớn hơn 16 mg/l. Những vi khuẩn có giá trị MIC dưới 16 mg/l nhưng lớn hơn 4
mg/l được xem là nhạy cảm trung gian.
Những phương thức được chuẩn hóa cần phải sử
dụng những vi khuẩn chứng trong phòng xét nghiệm. Những đĩa Vancomycin 30 mg
phải cho những vùng có đường kính từ 15 đến 19 mm đối với S. aureus ATCC 25923.
Cũng với những phương pháp pha loãng chuẩn, những phương thức pha loãng cần phải
sử dụng những vi sinh vật chứng trong phòng xét nghiệm. Bột Vancomycin chuẩn
phải cho những giá trị MIC trong giới hạn từ 0,5 mg/l đến 2 mg/l đối với S.
aureus ATCC 25913. Đối với S. faecalis ATCC 29212, giới hạn MIC từ 1,0 đến 4,0
mg/l.
DƯỢC ĐỘNG HỌC
Vancomycin hấp thu kém khi dùng đường uống ;
thuốc được dùng tiêm mạch để điều trị nhiễm trùng toàn thân. Tiêm bắp rất đau. Ở
những đối tượng có chức năng thận bình thường, truyền tĩnh mạch nhiều lần liều 1
g Vancomycin (15 mg/kg) trong 60 phút tạo nên nồng độ trung bình trong huyết
tương khoảng 63 mg/l ngay khi ngưng truyền, nồng độ trung bình trong huyết tương
khoảng 23 mg/l sau khi truyền 2 giờ, và nồng độ trung bình trong huyết tương
khoảng 8 mg/l sau khi ngưng truyền 11 giờ. Truyền nhiều lần liều 500 mg trong 30
phút tạo nên nồng độ trung bình trong huyết tương khoảng 49 mg/l sau khi ngưng
truyền, nồng độ trung bình trong huyết tương khoảng 19 mg/l sau khi truyền 2
giờ, và nồng độ trung bình trong huyết tương khoảng 10 mg/l sau khi truyền 6
giờ. Nồng độ Vancomycin trong huyết tương khi dùng nhiều lần cũng tương tự với
nồng độ trong huyết tương khi dùng liều duy nhất.
Thời gian bán hủy đào thải trung bình của
Vancomycin trong huyết tương từ 4 đến 6 giờ ở những đối tượng có chức năng thận
bình thường. Trong 24 giờ đầu, khoảng 75% liều Vancomycin đã dùng được thải trừ
trong nước tiểu do sự lọc cầu thận. Độ thanh thải trung bình trong huyết tương
khoảng 0,058 l/kg/giờ, và độ thanh thải trung bình của thận khoảng 0,048
l/kg/giờ. Rối loạn chức năng thận làm chậm đào thải Vancomycin. Ở những bệnh
nhân suy thận nặng, thời gian bán hủy đào thải trung bình là 7,5 ngày. Hệ số
phân khối từ 0,3 đến 0,43 l/kg. Chuyển hóa của thuốc không rõ. Khoảng 60% liều
Vancomycin trong màng bụng khi dùng qua đường thẩm phân phúc mạc được hấp thu
ngấm vào máu sau 6 giờ. Khi tiêm Vancomycin vào phúc mạc liều 30 mg/kg đạt được
nồng độ trong huyết thanh khoảng 10 mg/l. Vancomycin không dễ dàng bị loại bỏ
qua đường thẩm phân phúc mạc hoặc lọc máu : không có báo cáo nào về độ thanh
thải Vancomycin khi truyền máu. Độ thanh thải Vancomycin toàn thân và thận có
thể giảm ở những người lớn tuổi.
Khoảng 55% Vancomycin kết hợp protein huyết
thanh, đo bằng phương pháp siêu âm lọc ở nồng độ Vancomycin trong huyết thanh từ
10 đến 100 mg/l. Sau khi tiêm Vancomycin hydrochloride tĩnh mạch, nồng độ ức chế
đạt được trong màng phổi, màng tim, màng bụng, và hoạt dịch ; trong nước tiểu ;
trong dịch thẩm phân màng bụng và trong mô tiểu nhĩ. Vancomycin hydrochloride
thực sự không khuếch tán qua màng não bình thường để vào dịch não tủy ; nhưng
khi màng não bị viêm, sự thấm qua dịch não tủy xảy ra.
CHỈ ĐỊNH
Vancomycin hydrochloride đuợc chỉ định để điều
trị những trường hợp nhiễm trùng trầm trọng gây ra do những chủng Staphylococci
đề kháng methicillin nhạy cảm với thuốc (đề kháng
b-lactam).
Thuốc được chỉ định cho những bệnh nhân dị ứng penicillin, cho những bệnh nhân
không thể dùng những thuốc khác hoặc không đáp ứng với thuốc khác, kể cả
penicillin hoặc cephalosporin, và cho những trường hợp nhiễm trùng những vi
khuẩn nhạy cảm với Vancomycin nhưng đề kháng với những kháng sinh khác.
Vancomycin hydrochloride được chỉ định điều trị khởi đầu khi nghi ngờ
Staphylococci đề kháng methicillin, nhưng sau khi có những số liệu về tính nhạy
cảm, nên điều chỉnh trị liệu cho phù hợp. Vancomycin hydrochloride có hiệu quả
trong điều trị viêm nội tâm mạc do tụ cầu. Hiệu lực của thuốc còn được ghi nhận
trong những nhiễm trùng khác do Staphyloccoci, kể cả nhiễm trùng huyết, nhiễm
trùng xương, nhiễm trùng đường hô hấp dưới, và nhiễm trùng da và cấu trúc của
da. Khi nhiễm tụ cầu khu trú và có mủ, kháng sinh được sử dụng hỗ trợ cho những
phương pháp phẫu thuật thích hợp.
Vancomycin hydrochloride được báo cáo là hiệu
quả khi sử dụng đơn thuần hoặc phối hợp với một Aminoglycoside trong viêm nội
tâm mạc do S. viridans hoặc S. bovis. Đối với viêm nội tâm mạc do Enterococci
(ví dụ S. faecalis), Vancomycin hydrochloride được báo cáo là chỉ có hiệu quả
khi phối hợp với một Aminoglycoside.
Vancomycin hydrochloride được báo cáo là hữu
hiệu trong điều trị viêm nội tâm mạc do diptheroid. Vancomyciin hydrochloride
được sử dụng thành công khi phối hợp với rifampin, một aminoglycoside, hoặc cả
hai trong viêm nội tâm mạc có van giả phục hình giai đoạn sớm do S. epidermidis
hoặc diptheroid.
Nên lấy những mẫu cấy vi khuẩn để cách ly và
định danh vi khuẩn gây bệnh và xác định tính nhạy cảm của chúng với Vancomycin
hydrochloride.
Vancomycin hydrochloride dạng tiêm có thể được
sử dụng đường uống để điều trị viêm đại tràng giả mạc liên quan kháng sinh do C.
difficile. Chưa chứng minh được hiệu quả của việc sử dụng đơn thuần Vancomycin
hydrochloride dạng tiêm trong chỉ định này. Vancomycin hydrochloride dùng đường
uống không hiệu quả đối với những loại nhiễm trùng khác.
Mặc dù chưa thực hiện được những nghiên cứu có
nhóm chứng về hiệu quả lâm sàng, nhưng Vancomycin tiêm mạch được Hiệp hội Tim
mạch Hoa Kỳ và Hiệp hội Nha khoa Hoa Kỳ đề nghị sử dụng để phòng ngừa viêm nội
tâm mạc do vi khuẩn ở những bệnh nhân dị ứng penicillin vó bệnh tim bẫm sinh
hoặc bệnh van tim hậu thấp hoặc bệnh van tim mắc phải khi những bệnh nhân này
cần trải qua những thủ thuật về nha hoặc những thủ thuật đường hô hấp trên.
Lưu ý : Khi lựa chọn kháng sinh để phòng
ngừa viêm nội tâm mạc do vi khuẩn, bác sĩ hoặc nha sĩ nên nghiên cứu toàn bộ
thông tin chung của Hiệp hội Tim mạch Hoa Kỳ và Hiệp hội Nha khoa Hoa Kỳ.
CHỐNG CHỈ ĐỊNH
Tiêm thẳng tĩnh mạch nhanh (ví dụ trong khoảng
vài phút) có thể gây hạ huyết áp quá mức và hiếm gặp hơn, ngừng tim.
Nên sử dụng Vancomycin hydrochloride dưới dạng
dung dịch pha loãng truyền trong khoảng thời gian không dưới 60 phút để tránh
những phản ứng do truyền nhanh. Thông thường ngưng truyền, những phản ứng này sẽ
ngừng ngay lập tức. Độc tính trên tai có thể xảy ra trên những bệnh nhân dùng
Vancomycin hydrochloride. Độc tính này có thể thoáng qua hoặc lâu dài. Hầu hết
đuợc báo cáo trên những bệnh nhân được cho liều quá cao, tiềm tàng mất khả năng
nghe, hoặc dùng đồng thời với một kháng sinh khác cũng độc tai, như
aminoglycoside. Vancomycin nên được sử dụng thận trọng ở những bệnh nhân suy
thận vì nguy cơ độc tính tăng đáng kể do nồng độ trong máu cao, kéo dài.
Phải điều chỉnh liều lượng của Vancomycin
hydrochloride ở những bệnh nhân rối loạn chức năng thận (xem phần Thận trọng lúc
dùng, Liều lượng và Cách dùng).
THẬN TRỌNG LÚC DÙNG
Chung :
Nồng độ trong huyết thanh có ý nghĩa lâm sàng
đã được báo cáo trong một số bệnh nhận đang được điều trị viêm đại tràng giả mạc
do C. difficile sau khi uống nhiều liều Vancomycin.
Để giảm đến mức tối thiểu nguy cơ độc tính trên
thận khi điều trị những bệnh nhân có bệnh thận tiềm tàng hoặc những bệnh nhân sử
dụng đồng thời một aminoglycoside, nên thực hiện việc theo dõi chức năng thận
nhiều lần và đặc biệt là cẩn thận khi áp dụng những chế độ liều lượng thích hợp
bên dưới (xem Liều lượng và Cách dùng).
Thử nghiệm nhiều lần về chức năng thính giác có
thể hữu ích để giảm đến mức tối thiểu nguy cơ độc tính trên tai.
Giảm bạch cầu trung tính có hồi phục đã được
báo cáo ở những bệnh nhân dùng Vancomycin hydrochloride (xem Tác dụng ngoại ý).
Những bệnh nhân sẽ dùng Vancomycin hydrochloride lâu dài hoặc dùng đồng thời với
những thuốc có thể gây giảm bạch cầu trung tính nên theo dõi định kỳ số lượng
bạch cầu.
Vancomycin hydrochloride kích thích mô và phải
được cho bằng cách sử dụng một đường tĩnh mạch an toàn. Đau, dễ nhạy cảm, và
hoại tử xảy ra khi tiêm bắp Vancomycin hydrochloride hoặc khi thoát mạch do sơ
ý. Viêm tắc tĩnh mạch có thể xảy ra, tần suất và độ nặng có thể được giảm đến
mức tối thiểu bằng cách truyền thuốc chậm như một dung dịch pha loãng (2,5 đến 5
g/l) và thay đổi những vị trí tiêm truyền.
Có những báo cáo về tần suất những sự kiện liên
quan đến việc tiêm truyền (gồm hạ huyết áp, đỏ mặt, ban đỏ, mề đay, và ngứa)
tăng khi sử dụng đồng thời với những thuốc gây vô cảm khác. Có thể giảm đến mức
tối thiểu những sự kiện liên quan đến việc tiêm truyền bằng cách sử dụng
Vancomycin hydrochloride truyền 60 phút trước khi gây vô cảm.
Tính an toàn và hiệu quả của việc sử dụng
Vancomycin tiêm vào não thất (đường cột sống hoặc trong não thất) chưa được đánh
giá. Cần phải theo dõi cẩn thận khi sử dụng tại chỗ hoặc toàn thân đồng thời
với/hoặc theo sau những thuốc độc thần kinh và/hoặc độc thận khác, như
amphotericin B, các aminoglycoside, bacitracin, polymyxin B, colistin, viomycin,
hoặc cisplatin.
Sử dụng ở trẻ em : Xác định nồng độ
Vancomycin mong muốn trong huyết thanh ở những trẻ sinh non và trẻ nhỏ có thể
cần thiết. Ở trẻ em, việc sử dụng đồng thời Vancomycin với những thuốc gây vô
cảm có thể gây ban đỏ và đỏ mặt giống histamine (xem Tác dụng ngoại ý).
Sử dụng ở người lớn tuổi : Sự suy giảm
tự nhiên độ lọc cầu thận theo tuổi có thể làm nồng độ Vancomycin trong huyết
thanh tăng nếu không điều chỉnh liều. Nên điều chỉnh chế độ liều lượng
Vancomycin ở những bệnh nhân lớn tuổi (xem Liều lượng và Cách dùng).
LÚC CÓ THAI và LÚC NUÔI CON
BÚ
Những sự kiện liên quan đến tiêm truyền : Trong
lúc hoặc ngay sau khi truyền nhanh Vancomycin hydrochloride, bệnh nhân có thể bị
những phản ứng dạng phản vệ, gồm hạ huyết áp, thở rít, khó thở, mề đay, hoặc
ngứa. Truyền nhanh có thể gây đỏ da nửa trên cơ thể ("cổ đỏ") hoặc đau và co
thắt cơ ngực và lưng. Những phản ứng này thường hết trong vòng 20 phút nhưng có
thể kéo dài nhiều giờ. Những sự kiện như thế hiếm xảy ra nếu Vancomycin
hydrochloride được cho truyền chậm khoảng 60 phút. Trong những nghiên cứu ở
những người tình nguyện bình thường, những sự kiện liên quan đến tiêm truyền
không xảy ra khi Vancomycin hydrochloride được cho với tốc độ bằng hoặc ít hơn
10 mg/phút.
Độc thận : Nhiều trường hợp nồng độ creatinine
máu hoặc BUN trong huyết thanh tăng ở những bệnh nhân dùng Vancomycin
hydrochloride đã được báo cáo. Đa số những trường hợp này xảy ra ở những bệnh
nhân được cho đồng thời với aminoglycoside hoặc ở những người có rối loạn chức
năng thận tồn tại từ trước. Khi ngừng Vancomycin hydrochloride, đa số bệnh nhân
sẽ hết tăng azot máu.
Độc tai : Nhiều trường hợp mất thính giác liên
quan đến việc sử dụng Vancomycin hydrochloride đã được báo cáo. Hầu hết những
bệnh nhân này bị rối loạn chức năng thận, mất thính giác tồn tại từ trước, hoặc
trị liệu đồng thời với những thuốc độc tai. Chóng mặt, choáng váng và ù tai được
báo cáo hiếm gặp.
Tạo máu : Giảm bạch cầu trung tính có hồi phục,
thường bắt đầu xuất hiện một hoặc nhiều tuần sau đợt điều trị với Vancomycin
hydrochloride hoặc sau tổng liều lớn hơn 25 g, đã được báo cáo trên nhiều bệnh
nhân. Giảm bạch cầu trung tính phục hồi nhanh chóng ngay khi ngừng Vancomycin
hydrochloride. Giảm tiểu cầu hiếm gặp.
Các phản ứng phụ khác : Hiếm khi xảy ra, những
bệnh nhân bị phản vệ, sốt do thuốc, run, và phát ban đã được báo cáo do dùng
Vancomycin hydrochloride.
LIỀU LƯỢNG và CÁCH DÙNG
Những bệnh nhân có chức năng thận bình
thường :
Người lớn : Liều tiêm mạch thường dùng
hàng ngày là 2 g chia thành 500 mg mỗi 6 giờ hoặc 1 g mỗi 12 giờ. Mỗi liều nên
được cho trong khoảng thời gian ít nhất là 60 phút. Những yếu tố cơ địa khác,
như tuổi hoặc béo phì, có thể cần phải điều chỉnh liều thường dùng mỗi ngày.
Trẻ em : Tổng liều Vancomycin
hydrochloride tiêm mạch mỗi ngày đựoc tính trên cơ sở 40 mg cho mỗi kg cân nặng,
có thể chia hoặc pha vào nhu cầu dịch trong 24 giờ của trẻ. Mỗi liều nên được
cho trong một khoảng thời gian ít nhất 60 phút.
Trẻ nhỏ và trẻ sơ sinh : Ở trẻ nhỏ và sơ
sinh, tổng liều tiêm mạch mỗi ngày có thể thấp hơn. Ở cả hai trường hợp trẻ nhỏ
và trẻ sơ sinh, liều khởi đầu được đề nghị là 15 mg/kg, sau đó là 10 mg/kg mỗi
12 giờ cho trẻ sinh một tuần tuổi và mỗi 8 giờ cho trẻ trên một tháng tuổi. Theo
dõi chặt chẽ nồng độ Vancomycin trong huyết thanh ở những bệnh nhân này.
Tính an toàn và hiệu quả của việc sử dụng
Vancomycin tiêm vào não thất (đường cột sống hoặc trong não thất) chưa được đánh
giá.
Những bệnh nhân suy chức năng thận và lớn tuổi
: Việc điều chỉnh liều phải đựoc thực hiện ở những bệnh nhân suy chức năng thận.
Ở những bệnh nhân lớn tuổi, việc giảm liều có thể cần phải nhiều hơn mong đợi vì
chức năng thận giảm. Đo nồng độ Vancomycin trong huyết thanh có thể hữu ích điều
trị tốt, nhất là ở những bệnh nhân bệnh nặng kèm theo chức năng thận thay đổi.
Nồng độ Vancomycin trong huyết thanh có thể được xác định bằng phương pháp định
lượng vi sinh học, định lượng miễn dịch phóng xạ, định lượng miễn dịch huỳnh
quang phân cực, định lượng miễn dịch huỳnh quang, hoặc phép ghi sắc ký lỏng cao
áp.
Nếu có thể đo hoặc ước lượng độ thanh lọc
creatinin một cách chính xác, liều lượng cho hầu hết những bệnh nhân suy thận có
thể được tính toán theo bảng dưới đây. Liều lượng Vancomycin hydrochloride tính
bằng mg mỗi ngày khoảng 15 lần độ lọc cầu thận tính bằng ml/phút :
| Bảng Liều lượng
Vancomycin cho những bệnh nhân suy chức năng thận (Phỏng theo Moellering et
al) |
| Độ thanh lọc creatinin
(ml/phút) |
Liều Vancomycin (mg/24
giờ) |
| 100 |
1.545 |
| 90 |
1.390 |
| 80 |
1.235 |
| 70 |
1.080 |
| 60 |
925 |
| 50 |
770 |
| 40 |
620 |
| 30 |
465 |
| 20 |
310 |
| 10 |
155 |
Nên dùng liều khởi đầu dưới
15 mg/kg ngay cả ở những bệnh nhân suy thận từ nhẹ đến trung bình.
Bảng này không có giá trị đối với những bệnh
nhân suy thận chức năng. Đối với những bệnh nhân như thế, nên cho liều khởi đầu
15 mg/kg cân nặng để đạt được nồng độ trị liệu trong huyết thanh ngay lập tức.
Liều cần để duy trì nồng độ hằng định là 1,9 mg/kg/ngày. Vì liều duy trì thích
hợp cho từng người là từ 250 đến 1.000 mg, nên một liều có thể cho cách khoảng
nhiều ngày tốt hơn là dùng thuốc mỗi ngày ở những bệnh nhân có suy thận rõ. Ở
những bệnh nhân vô niệu, một liều 1.000 mg được đề nghị cho mỗi 7 đến 10 ngày.
Chỉ khi biết nồng độ creatinin trong huyết
thanh, có thể sử dụng công thức sau để tính độ thanh lọc creatinin (dựa trên
giới, cân nặng, và tuổi bệnh nhân). Độ thanh lọc creatinin được tính (ml/phút)
chỉ là giá trị ước lượng. Nên đo độ thanh lọc creatinin ngay sau đó.
Nam :
Cân nặng (kg) x (140 - tuổi tính theo năm) / 72
x nồng độ creatinin huyết thanh (mg/dl)
Nữ : 0,85 x giá trị trên.
Creatinin huyết thanh phải thể hiện tình trạng
chức năng thận ổn định. Nếu không thì trị số ước lượng của độ thanh lọc
creatinin không có giá trị. Như thế độ thanh lọc được tính toán cao hơn độ thanh
lọc thực sự ở những bệnh nhân có những điều kiện : (1) đặc trưng bởi chức năng
thận giảm, như choáng, suy tim nặng, hoặc thiểu niệu ; (2) không có mối tương
quan bình thường giữa khối lượng cơ và toàn bộ trọng lượng cơ thể, như những
bệnh nhân béo phì hoặc những bệnh nhân có bệnh gan, phù, báng bụng ; và (3) đi
kèm tình trạng suy nhược, suy dinh dưỡng, hoặc không hoạt động.
Tính an toàn và hiệu quả của việc sử dụng
Vancomycin tiêm vào não thất (đường cột sống hoặc trong não thất) chưa được đánh
giá.
Truyền ngắt quãng là phương pháp dùng được đề
nghị.
Pha chế và Tính bền :
Ngay khi sử dụng, tái tổ hợp bằng cách thêm
hoặc 10 ml nước vô khuẩn vào lọ 500 mg hoặc 20 ml nước vô khuẩn vào lọ 1 g bột
Vancomycin khô, vô khuẩn. Pha loãng hơn nữa là cần thiết.
Sau khi tái tổ hợp, những lọ này có thể giữ
trong tủ lạnh 14 ngày mà không mất hiệu lực đáng kể.
Dung dịch được tái tổ hợp có 500 mg Vancomycin
phải được pha loãng với ít nhất 100 ml dung môi. Dung dịch được tái tổ hợp có 1
g Vancomycin phải được pha loãng với ít nhất 200 ml dung môi. Liều lượng mong
muốn được pha loãng theo cách này nên được sử dụng truyền tĩnh mạch trong một
thời gian ít nhất là 60 phút.
Tương hợp với những thuốc khác và những dịch
truyền tĩnh mạch khác : những dung dịch được pha loãng với Dextrose 5 % hoặc
Sodium Chloride 0,9% có thể bảo quản trong tủ lạnh 14 ngày mà không mất hiệu lực
đáng kể. Những dung dĩch được pha loãng với những dịch sau có thể bảo quản trong
tủ lạnh 96 giờ :
- Dịch truyền Dextrose 5% và Sodium Chloride
0,9% USP
- Lactated Ringer, USP
- Lactated Ringer và Dextrose 5%, USP
- Normosol *- M và Dextrose 5%
- Isolyte * E
Dung dịch Vancomycin có pH thấp và có thể không
ổn định về mặt vật lý khi trộn với những hợp chất khác.
Những sản phẩm thuốc đang tiêm nên kiểm tra kỹ
bằng mắt xem có cặn và mất màu trước khi dùng, vào bất cứ lúc nào có thể được.
Việc sử dụng thuốc đường uống :
Tổng liều thường dùng hàng ngày ở người lớn
trong viêm đại tràng giả mạc do C. difficile là 500 mg đến 2 g chia 3 hoặc 4 lần
trong 7 đến 14 ngày. Tổng liều thường dùng hàng ngày ở trẻ em là 40 mg/kg cân
nặng chia 3 hoặc 4 lần. Tổng liều hàng ngày không nên quá 2 g. Liều thích hợp có
thể được pha với 1 oz nước và cho bệnh nhân uống. Thuốc đã được pha loãng có thể
cho qua ống thông mũi dạ dày. Có thể thêm sirô có mùi thơm thường dùng để cho dễ
uống.
QUÁ LIỀU