Tác dụng dược lý :
Hytrol, một chất ức chế Enzym chuyển loại mới,
điều trị hiệu nghiệm trên diện rộng các tình trạng cao huyết áp thường gặp và
suy tim xung huyết mãn tính.
Tác dụng lên chứng cao huyết áp :
Hytrol hạ thấp sức kháng tiểu động mạch hệ
thống và huyết áp trung bình tâm trương và tâm thu trong những trạng thái cao
huyết áp khác nhau. Mặc dù sự giảm ban đầu có xu hướng tương quan dương tính với
hoạt tính huyết tương (PRA) và nồng độ Angiotensin II trước điều trị, điều trị
tiếp theo với Hytrol làm giảm huyết áp đáng kể và do đó tác dụng chống cao huyết
áp của Hytrol tương quan một phần hoặc không liên quan tới kết quả PRA trước
điều trị. Huyết áp giảm cao điểm trong khoảng 4-5 giờ sau khi uống Hytrol.
Tác dụng lên suy tim xung huyết mãn tính :
Hytrol gây giãn tiểu động mạch hệ thống dẫn đến
giảm hậu tải tăng hiệu suất tim, chỉ số tim và cả chỉ số công năng, thể tích tâm
thu.
Hytrol giảm rõ rệt kháng mạch thận và do đó
tăng lưu lượng máu thận. Natri-niệu gây ra bởi sự tăng lưu lượng máu thận và
giảm kích thích chế tiết Aldosterone bằng Angiotensin II. Thể tích dư của dịch
cơ thể co bóp dẫn đến giảm lượng trở về tim phải qua tĩnh mạch. Hytrol ức chế
men chuyển gây giãn tĩnh mạch cũng đóng góp thêm vào sự giảm này. Đáp ứng đối
với Hytrol cũng liên quan tới sự giảm áp suất động mạch phổi, áp suất đầy động
mạch trái và thất trái (Tiền tải). Quá trình huyết động tốt hơn sẽ làm tăng khả
năng gắng sức.
Cơ chế tác động :
Hytrol là một liều thuốc mà bản thân nó không
có hoạt tính cao. Nó được hủy phân thành Acid-dicarboxylic gốc Enalaprilat hoạt
động. Tác dụng cần thiết của Hytrol lên hệ thống Angiotensin Renin là ức chế sự
chuyển hóa Angiotensin II hoạt động. Ngăn chặn khả năng kích thích tiết
Aldosterone của Angiotensin I.
Enalaprilat liên kết chặt với enzym chuyển và
tồn tại lâu trong huyết tương dẫn đến kéo dài thời gian của thuốc nên chỉ dùng
một liều đơn Hytrol mỗi ngày.
CHỈ ĐỊNH
Chú ý đề phòng :
Bệnh nhân phải được nhắc nhở báo lại những cơn
nhức đầu nhẹ, đặt biệt trong những ngày đầu trị liệu. Không chống chỉ định khi
có sự hạ huyết áp tạm thời, có thể tiếp tục điều trị một khi áp huyết tăng sau
sự giãn nở thể tích.
Bệnh nhân phải được nhắc nhở báo ngay bất kỳ
dấu hiệu viêm nhiễm nào (viêm họng, sốt) mà có thể là dấu hiệu của giảm bạch cầu
trung tính. Với những bệnh nhân có bệnh keo mạch hay bệnh thận phải theo dõi
theo chu kỳ số lượng bạch cầu do chứng mất bạch cầu hạt và suy tủy xương có thể
xảy ra, đặc biệt ở những bệnh nhân này.
Ở những bệnh nhân trải qua phẫu thuật lớn hoặc
đang gây mê bằng tác nhân gây giảm áp, Hytrol ngăn chặn sự hình thành
Angiotensin II thứ phát đối với việc giải phóng Renin bù trừ. Nếu xảy ra giảm
huyết áp và được xem như gây bởi cơ chế này, nó có thể được hiệu chỉnh nhờ sự
giãn nở thể tích.
Bệnh nhân được nhắc nhở không sử dụng những dẫn
xuất muối có chứa Kali nếu không có ý kiến bác sỹ
Ghi chú :
Tương tự như các thuốc khác, phải bảo đảm những
điều căn dặn rõ ràng đối với các bệnh nhân được điều trị với Hytrol. Các thông
tin này nhằm đảm bảo tính an toàn và hiệu quả của thuốc. Nó không phải là ngoại
ý đối với những tác động ngoại ý có thể và đã biết.
Thận trọng lúc dùng :
Cẩn thận sử dụng Hytrol trong trường hợp huyết
áp thấp và loạn chức năng thận. Chỉ sử dụng Hytrol trong thời gian mang thai và
cho con bú khi mà lợi ích điều trị lớn hơn những nguy hiểm tiềm tàng đã đề cập.
Về mức độ an toàn và hiệu quả của Hytrol nơi
trẻ em chưa được kiểm chứng.
TƯƠNG TÁC THUỐC
Hytrol không phải là một hợp chất Sulfuhydryl,
do đó tỷ lệ tác dụng ngoại ý là nhỏ hơn. Phần lớn những trường hợp ngoài mong
muốn là nhẹ và tạm thời về bản chất, phản ứng đáng kể nhất chỉ là đau đầu, hoa
mắt và mệt mỏi.
Để giảm tần suất, Hytrol thỉnh thoảng gây ra
những tác dụng sau :
- Tim mạch : nhồi máu cơ tim và tai biến
mạch máu não, có thể thứ cấp đối với giảm huyết áp nhiều ở bệnh nhân nguy hiểm
cao, ngất, hạ huyết áp đứng, đánh trống ngực, đau ngực.
- Dạ dày - ruột : buồn nôn, tắc ruột,
viêm tuyến tụy, viêm gan hoặc vàng da ứ mật, đau bụng, ói mửa, loạn tiêu hóa,
táo bón.
- Thần kinh / Tâm thần : căng thẳng, lẩn
thẩn, ngủ gà, mất ngủ, hồi hộp, dị cảm.
- Thận : suy chức năng thận, giảm niệu,
loạn chức năng thận.
- Hô hấp : co thắt phế quản, khó thở,
chảy mũi.
- Những phản ứng khác : nổi ban, phù
mạch (có thể phù thanh quản), chuột rút, tăng tiết mồ hôi, liệt dương, ngứa, suy
nhược, mẫn cảm ánh nắng, rụng lông tóc, đỏ mặt, rối loạn vị giác, ù tai, viêm
lưỡi, rối loạn tạo máu.
LIỀU LƯỢNG và CÁCH DÙNG
Dùng uống.
Người lớn : 10 - 40 mg/lần/ngày hoặc
theo hướng dẫn của bác sỹ. Liều lượng ban đầu cho bệnh nhân đang dùng thuốc lợi
tiểu là 2,5 mg và bệnh nhân không dùng thuốc lợi tiểu là 5 mg. Liều lượng này có
thể điều chỉnh từ từ theo phản ứng của huyết áp. Có thể sử dụng Hytrol kèm với
các ức chế thụ thể Beta (b-adernergic),
methydopa, nitrat, calci, hydrelazin và prazosin mà không có phản ứng ngoại ý có
ý nghĩa y tế bào.
Đối với bệnh nhân suy thận : liều lượng
Hytrol được điều chỉnh theo giá trị thanh thải Creatinine.
Thanh thải Creatinine > 30 ml/ phút (S.
Creatinine 3 mg/dl) : liều không thay đổi.
Thanh thải Creatinine < 30 ml/ phút (S.
Creatinine > 3 mg/dl) : khởi đầu dùng liều 2,5 mg/lần/ngày, tối đa 40 mg/ngày.
Đối với các bệnh nhân thẩm tách, liều lượng ban
đầu và liều lượng trong những ngày thẩm tách 2,5 mg/ngày. Liều trong các ngày
không thẩm tách điều chỉnh tùy theo đáp ứng huyết áp.
BẢO QUẢN