Các nghiên cứu chỉ ra Omeprazole đào thải nhanh
khỏi huyết tương và có thể tìm thấy trong màng nhầy ở dạ dày trong vòng 1 ngày
thậm chí hơn.
Sau khi uống thuốc, Omeprazole bắt đầu có tác
dụng chống tiết dịch trong vòng một giờ và tác dụng tối đa đạt được trong khoảng
hai giờ.Sau 24 giờ, tác dụng ức chế tiết dịch còn khoảng 50% mức tối đa và thời
ức chế có thể kéo dài hơn mong đợi trong khi thời gian bán hủy ở huyết tương rất
ngắn (chưa đến một giờ ), rõ ràng gây bởi thời gian liên kết lâu dài giữa Enzyme
H+/K+/ATPASE với vách dạ dày. Khi ngừng thuốc, hoạt tính
tiết dịch trở lại bình thường sau 3 đến 5 ngày. Tác dụng ức chế tiết acid của
Omeprazole tăng dần khi bắt đầu uống liều đơn mỗi ngày, đạt mức ổn định sau 4
ngày. Viên nén Omeprazole được bọc nang và hấp thụ nhanh, mức cao điểm trong
huyết tương tăng trong vòng từ 0.5 đến 3.5 giờ. Nồng độ cao điểm trong huyết
tương là diện tích dưới đường cong xấp xỉ tỷ lệ với liều lượng cho tới 40mg,
nhưng do tác dụng vòng chuyển thứ nhất (first pass) bão hòa nên nồng độ cao điểm
ở huyết tương và AUC cao hơn đáp ứng tuyến tính trong vùng liều lượng từ 20 - 40
mg phần lớn gây bởi chuyển hóa tiền hệ thống. Ở những cơ thể khỏe mạnh, thời
gian bán hủy huyết tương từ 0,5-1 giờ, thanh thải trên toàn cơ thể là 500 - 600
ml/phút. Liên kết protein xấp xỉ 95%. Khả dụng sinh học của Omeprazole tăng nhẹ
khi liều lượng tăng nhanh. Phần lớn liều lượng (khoảng 77%) bài tiết qua nước
tiểu. Omeprazole có ít nhất 6 dạng chuyển hóa. Hai dạng được biết là
hydroxy-omeprazole và acid carboxylic tương ứng. Phần còn lại của liều thuốc có
thể thu hồi từ phần. Như vậy có sự thải mật đáng kể của các chuyển hóa trong
huyết tương- dẫn chất Sulphide, Sulphone của Omeprazole và Hydroxy-omeprazole.
Những dạng chuyển hóa này không có hoặc hoạt tính rất thấp.
Ở những bệnh nhân gan mãn tính, khả dụng sinh
học có thể tăng tới 100% phản ánh suy giảm tác dụng vòng chuyển thứ nhất (first
pass) và thời gian bán hủy ở huyết tương tăng tới gần 3 giờ so với người bình
thường chỉ từ 0,5-1giờ. Tốc độ thanh thải huyết tương trung bình 70 ml/phút
trong khi ở người bình thường là 500-600 ml/phút. Với bệnh nhân suy năng thận
mãn tính mà thanh thải Creatinine từ 10-62 ml/phút /1,73m2.
Omeprazole có khuynh hướng tương tự như những người tình nguyện khỏe mạnh tuy
nhiên khả dụng sinh học có tăng chút ít.
Do bài tiết qua nước tiểu là con đường đào thải
cơ bản các chuyển hóa của Omeprazole nên sự đào thải Omeprazole tỷ lệ với tốc độ
thanh thải creatinine. Đối với người già, tốc độ đào thải Omeprazole giảm chút
ít trong khi tác dụng sinh học tăng.
ĐỘC TÍNH
Các trường hợp gây ung thư, biến đổi gen di
truyền và suy giảm khả năng sinh sản :
Trong 2 thí nghiệm 24 tháng về khả năng gây ung
thư trên chuột, liều lượng Omeprazole uống hàng ngày là 1.7, 3.4, 12.8, 44.0 và
140.8 mg/kg/ngày sinh ra những tế bào Calciroid ECL ở dạ dày phụ thuộc vào liều
lượng ở cả chuột đực lẫn chuột cái, tỷ lệ mắc phải là cao hơn đáng kể ở chuột
cái, là giới có mức trong máu cao hơn Calciroid ECL dạ dày hiếm khi xảy ra ở
chuột không điều trị Omeprazole xảy ra sự tăng sản lượng tế bào ECL ở tất cả các
nhóm điều trị của 2 giới tính.
Omeprazole không gây đột biến ở thí nghiệm Ames
Salmoella Typhimurium trong ống nghiệm, thí nghiệm tế bào u lympho trong ống
nghiệm, thí nghiệm sai lạc nhiễm sắc thể tủy xương trên cơ thể sống. Kết quả
nghiên cứu vi nhân ở mức 2000 lần liều lượng cho người với những lần lấy mẫu
khác nhau (trong điều kiện tốt nhất) vẫn cho kết quả âm tính.
Ở thí nghiệm về khả năng và quá trình sinh sản
ở chuột, Omeprazole trong vùng liều lượng từ 13,8-138 mg/kg/ngày là không độc và
không có hại đến quá trình sinh sản của bố mẹ.
CHỈ ĐỊNH
Nói chung, Omeprazole được dung nạp tốt. Có xảy
ra những tác dụng ngoại ý sau ở khoảng 1% bệnh nhân điều trị với Omeprazole :
nhức đầu, tiêu chảy, đau bụng, buồn nôn, chóng mặt, ói mửa, nổi ban, bón uất,
ho, suy nhược, đau lưng, đầy hơi.
Một số tác dụng phụ khác :
Một số tác dụng phụ khác xảy ra đối với 1% bệnh
nhân và đối tượng dùng thuốc trong và ngoài nước, hoặc xảy ra từ khi thuốc được
đem ra thị trường, được trình bày dưới đây theo từng hệ. Trong nhiều trường hợp,
mối liên hệ với Omeprazole là không rõ ràng.
Toàn thân : Sốt, đau nhức, mệt mỏi, khó chịu,
trương bụng.
Tim mạch : Đau ngực hoặc đau thắt, tăng giảm
nhịp tim, đánh trống ngực, tăng huyết áp, phù ngoại biên.
Tiêu hóa : Những bệnh về gan bao gồm viêm gan,
suy gan (hiếm gặp), tăng ALT (SGPT), tăng lượng AST (SGOT), tăng lượng các chất
như g-Glutamyl
Transpeptidase, Alkaline Phosphate, chứng vàng da, biếng ăn, kích thích đại
tràng (ruột kết), đầy hơi, biến màu phân, bệnh nấm Candidia thực quản, teo màng
nhầy lưỡi, khô miệng.
Chuyển hóa chất / dinh dưỡng : Hạ đường huyết,
tăng trọng.
Cơ bắp: Chuột rút, đau cơ đau khớp, đau chân.
Hệ thần kinh : Rối loạn tâm lý bao gồm trầm
uất, nóng nảy, ảo giác, lẩn thẩn, mất ngủ, bồn chồn, run rẩy, mơ màng, lo lắng,
mộng mị bất thường, dị cảm, loạn cảm.
Hô hấp : chảy máu cam, đau họng.
Da : Viêm da, nổi ban, phù mạch mề đai, ngứa
ngáy, rụng lông tóc, da khô, loạn tăng tiết mồ hôi.
Những cảm giác khác : ù tai, lạ miệng.
Tiết niệu - sinh dục : nhiễm đường tiết niệu,
mủ niệu vi mô, tiểu thường xuyên, huyết thanh Creatinine tăng, Protein niệu,
tiểu đường, đau tinh hoàn, vú to nơi bệnh nhân nam.
Huyết học : Quan sát thấy chứng giảm bạch cầu
hạt ở nam bệnh nhân trên 65 tuổi bị bệnh tiểu đường dùng nhiều thứ thuốc cùng
Omeprazole. Mối quan hệ giữa Omeprazole và chứng mất bạch cầu hạt là chưa rõ
ràng. Giảm toàn thể huyết cầu, giảm lượng tiểu cầu, giảm bạch cầu trung tính,
chứng tăng bạch cầu, thiếu máu do tan máu.
Tỷ lệ mắc hiện tượng y tế ngoại ý ở bệnh nhân
trên 60 tuổi là tương tự như ở bệnh nhân 65 tuổi và ít hơn.
LIỀU LƯỢNG và CÁCH DÙNG