Esorid (Cisapride) là một piperidinyl benzamide
biến đổi có cấu trúc hóa học liên quan với metoclopramide. Nó là thuốc tăng
cường năng lực vận động dùng đường uống, có tác dụng làm dễ dàng và phục hồi sự
vận động của đường tiêu hóa.
Dược lý lâm sàng :
Cisapride tăng cường nhu động đường tiêu hóa.
Cisapride có tác động nhờ gia tăng phóng thích
một cách sinh lý acetylcholine từ tận cùng thần kinh hậu hạch của đám rối
Auerbach's trong cơ trơn đường tiêu hóa. Cisapride không có hoạt tính kháng
dopamin, không kích thích thụ thể cholin và không làm thay đổi đáng kể nồng độ
prolactin huyết tương. Ở bệnh nhân bị trào ngược dạ dày - thực quản, Cisapride
làm tăng trương lực cơ thắt thực quản dưới và nhu động thực quản lên khoảng 20
đến 50%. Cisapride cải thiện việc làm trống dạ dày và làm ngắn thời gian thức ăn
di chuyển từ miệng đến manh tràng. Cisapride cũng kích thích nhu động đẩy tới
của kết tràng và làm tăng thời gian thức ăn di chuyển ở kết tràng.
DƯỢC ĐỘNG HỌC
Do làm tăng thời gian làm trống dạ dày,
Cisapride có thể ảnh hưởng đến tốc độ hấp thu và do đó ảnh hưởng đến sinh khả
dụng của các thuốc khác. Sự hấp thu có thể bị giảm ở dạ dày, nhưng có thể tăng ở
ruột non. Dùng cùng lúc cisapride với digoxin có thể làm giảm nhẹ nồng độ tối đa
của digoxin trong huyết tương và diện tích dưới đường cong. Tuy nhiên sự giảm
này không có ý nghĩa về mặt lâm sàng và thống kê.
Cisapride không làm thay đổi sự gắn kết của
những thuốc như propranolol, tolbutamide, imipramine, warfarin và
diphenylhydantoin với protein huyết tương. Mặc dù không có bằng chứng trực tiếp
là Cisapride ảnh hưởng đến nồng độ của thuốc chống động kinh, vẫn nên kiểm tra
nồng độ trong huyết tương của những thuốc này khi dùng cùng lúc với Cisapride.
Cisapride làm tăng hấp thu diazepam và ethanol với sự suy giảm kèm theo ở thử
nghiệm tâm thần vận động. Cisapride đơn độc không gây buồn ngủ và không làm rối
loạn tâm thần vận động. Dùng cùng lúc với thuốc đối kháng thụ thể H2
làm tăng sinh khả dụng của Cisapride.
TÁC DỤNG NGOẠI Ý
Đường uống.
Liều thông thường cho người lớn và trẻ em trên
12 tuổi là 10 mg, 3-4 lần mỗi ngày, 15 đến 30 phút trước bữa ăn. Có thể tăng
liều đến 20 mg, 2 đến 4 lần mỗi ngày trong trường hợp bệnh nặng. Thường điều trị
trong 4 tuần ở bệnh nhân rối loạn tiêu hóa, nhưng ở bệnh nhân rối loạn năng lực
vận động nên điều trị trong ít nhất 6 tuần, thời gian điều trị thông thường cho
bệnh trào ngược dạ dày - thực quản là 12 tuần.
Ở bệnh nhân thiểu năng gan hay thận, nên bắt
đầu với nửa liều thông thường, sau đó điều chỉnh liều tùy theo đáp ứng lâm sàng.
BẢO QUẢN