ÐẶt Vấn ÐỀ
Cao huyết áp (HA) là vấn đề
thường gặp trong lâm sàng. Việc điều trị cao HA thường đòi hỏi sự kiên nhẫn, tốn
kém vì phải điều trị suốt đời. Thông thường để chẩn đoán cao HA người ta thường
dựa vào chỉ số đo HA tại phòng khám qua nhiều lần khám để đi đến kết luận cao
HA. Tuy nhiên, trong số những bệnh nhân (BN) đó, có những người HA chỉ cao tại
phòng khám nhưng lại bình thường ở hầu hết các thời điểm khác trong ngày, còn
gọi là cao HA áo choàng trắng hay cao HA phòng khám đơn thuần (Isolated office
hypertension).(4,10,12,13) Theo hầu hết các tác giả, tình trạng này
lành tính, nguy cơ thấp và không cần điều trị thuốc hạ áp.(12,13,16)
Do đó việc xác định nhóm người có cao HA áo choàng trắng rất quan trọng, nhằm
giúp BN tránh việc điều trị không cần thiết. Từ thực tế đó, nghiên cứu này được
thực hiện nhằm đánh giá sự liên hệ giữa số đo HA phòng khám và số đo HA trung
bình ban ngày theo kỹ thuật đo HA 24 giờ (ABPM) và qua đó sơ bộ xác định:
1. Tỉ lệ cao HA áo choàng
trắng tại phòng khám Trung tâm MEDIC.
2. Sự dao động HA trong ngày
của từng nhóm người với HA bình thường, nhóm người cao HA áo choàng trắng và cao
HA thật sự.
ÐỐi TưỢng và Phương
Pháp Nghiên CỨu
1/ Chọn bệnh:
67 người, có tuổi: từ 24-75
(trung bình 49,5), không mắc các bệnh lý tim mạch như suy tim, bệnh tim bẩm sinh
và mắc phải khác, không mắc các bệnh nội khoa quan trọng và cấp tính khác. không
dùng thuốc gì trước khi đến khám trong vòng 10 ngày. Chia làm 2 nhóm:
- Nhóm HA bình thường tại
phòng khám: 20 BN (10 nam, 10 nữ) có trị số đo HA ở 3 lần khám khác nhau
trung bình <140/90 mmHg.-
- Nhóm HA cao tại phòng khám: 47 BN (26
Nam, 21 nữ) được chẩn đoán cao HA giai đoạn 1 và 2 (theo phân loại JNC VI) có
trị số- trung bình của 3 lần khám khác nhau
-140/90 mmHg
(140-179 mmHg đối với HA tâm thu và 90-109 mmHg đối với HA tâm trương).
- Tất cả các BN đều được đo
với tư thế ngồi, ở cả 2 tay, sau đó tính trung bình của 3 lần khám khác nhau
trước khi tiến hành theo dõi tình trạng HA 24 giờ (ABPM- Ambulatory blood
pressure monitoring), tất cả đều được chụp X quang tim phổi và đo ECG lúc nghỉ,
có kết quả siêu âm tim được thực hiện trong vòng 6 tháng.
2/ Máy đo huyết áp:
- Máy đo huyết á- tại phòng
khám là HA kế thủy ngân hiệu LK,- sử dụng kèm với ống nghe.
- Máy đo ABPM hiệu GH Medical
Monitor (USA).
3/ Kỹ thuật đo HA:
BN nghỉ 15 phút trước khi đo,
không hút thuốc lá, không uống rượu bia trước đó 12 giờ.
Máy đo HA 24 giờ được chỉnh
lại theo HA kế thuỷ ngân. Máy được lập trình sẵn để mỗi 15 phút đo 1 lần vào ban
ngày và 60 phút đo 1 lần vào ban đêm. Thời gian ban ngày tính từ 06:00 sáng đến
10:00 tối, thời gian ban đêm được tính từ 10:00 tối đến 06:00 sáng. Kết quả thu
được sau 24 giờ được thống kê bao gồm: HA trung bình 24 giờ, HA trung bình ban
ngày (lúc thức), HA trung bình ban đêm (lúc ngủ) theo trị số tâm thu và tâm
trương và tải HA tâm thu và tâm trương.
Giới hạn trên của HA bình
thường trung bình ban ngày theo kỹ thuật đo HA 24 giờ (ABPM) được định nghĩa
theo Hội Cao HA Hoa Kỳ đề xuất là 135/85 mmHg.(13,25,26)
4- Ðánh giá:
HA được xem là bình thường
thật sự khi trị số đo trung bình tại
phòng khám dưới 140/90 mmHg và trị số HA trung bình ban ngày theo ABPM là dưới-
135/85 mmHg.
Cao HA áo choàng trắng
được xác định khi HA tâm thu hoặc tâm trương trung bình đo tại phòng khám-
-140/90 mmHg
nhưng HA trung bình ban ngày theo kỹ thuật ABPM là <135/85 mmHg.
Cao HA thật sự được xác định khi HA trung bình tại phòng khám
-140/90 mmHg và trị số HA trung bình ban ngày- theo ABPM
-135/85 mmHg.
Tình trạng hạ HA
ban đêm
(Dipper) khi trị số HA trung bình ban đêm giảm
-10% so với trị số trung bình ban ngày.
Nếu <10% trung bình ban ngày thì HA không hạ ban đêm (Non-dipper).


5/ Phương pháp thống kê:
Sử dụng phép kiểm
c2
để so sánh tỉ lệ nam và nữ cao HA áo
choàng trắng cũng như so sánh tình trạng hay không hạ HA ban đêm ở các nhóm
người bình thường, cao HA áo choàng trắng và cao HA thật sự. Sự khác biệt xem
như có ý nghĩa thống kê khi P <0,05.
Kết Quả:
1/ Trong nhóm HA bình
thường đo ở phòng khám: cả 20 người
đều có trị số HA theo kỹ thuật đo 24 giờ <135/85 mmHg, được xem là HA bình
thường thật sự.


2/ Trong nhóm cao HA tại phòng
khám:
- Có 13 BN (27,7%) có trị số
HA tâm thu và hoặc tâm trương trung bình ban ngày theo ABPM là bình thường
(<135/8 5mmHg) tức là cao HA áo choàng trắng. Trong đó có 9/ 21 BN nữ (42,8%) so
với nam là 4/26 BN nam (15,4%)- (p =0,036). Tỉ lệ nữ có hiện tượng cao HA áo
choàng trắng cao hơn nam giới.
2/ Hiện tượng hạ HA ban đêm (Dipper):
- Ở nhóm HA bình thường thật sự: tỉ lệ hạ HA ban đêm là 55%, -không hạ
là 45%.- Ở nhóm cao HA áo choàng trắng: tỉ lệ hạ HA
ban đêm là 46%,- không hạ HA ban đêm 54%.
- Ở người cao HA thật sự:
tỉ lệ hạ HA ban đêm là 41,6%,- không hạ HA ban đêm là 58,4%.
Không có sự khác biệt có ý nghiã
thống kê của hạ HA ban đêm khi so ở từng nhóm người bình thường, người cao HA áo
choàng trắng và người cao HA thật sự ( P > 0.32). (Biểu đồ 1)
Biểu đồ 2, 3, 4 cho các
trường hợp cụ thể.

Bàn- luận
Cao HA áo choàng trắng được
đề cập nhiều trong y văn hiện nay, tần suất phụ thuộc vào định nghĩa HA bình
thường của kỹ thuật theo dõi HA 24 giờ (ABPM) và cũng phụ thuộc vào quần thể
nghiên cứu. Mặc dù trước đây Pickering và CS(1,15)
đã đề nghị giới hạn trên của HA bình thường là 136/90 mmHg, nhưng sau này từ các
nghiên cứu ở người bình thường đặc biệt là nghiên cứu PAMELA(10) cho
thấy giới hạn trên của HA bình thường theo phương pháp đo HA 24 giờ phải thấp
hơn các trị số đề ra trước đây. Theo- hầu hết các tác giả và theo JNC- VI của
Hội cao HA Hoa Kỳ(13,25,26)đều chọn giới hạn trên bình thường theo kỹ
thuật ABPM là 135/85 mmHg.
Theo Pickering TG, tỉ lệ
chung của cao HA áo choàng trắng là 20-40%.(11) Trong nghiên cứu này,
tỉ lệ cao HA áo choàng trắng ở những người có HA đo tại phòng khám
-140/90 mmHg là 27,7%. Qua đó cho thấy cao HA áo choàng
trắng là hiện tượng thường gặp trong lâm sàng.
Cao HA áo choàng trắng có
khuynh hướng thường gặp ở nữ hơn nam giới, nhưng chưa có nhất trí chung.(11).
Theo Abasolo và cs,(24) nguy cơ cao HA áo choàng trắng ở nữ lớn gấp
2,14 lần ở nam (KTC 95%: 1,24-3,70). Nghiên cứu này cho thấy tỷ lệ nữ nhiều hơn
nam, tuy nhiên chưa thể đánh giá nguy cơ của giới nữ về cao HA áo choàng trắng
vì số lượng nghiên cứu còn nhỏ. Ý nghĩa lâm sàng của vấn đề này là cần cẩn thận
hơn trưóc chẩn đoán cao HA ở phụ nữ nếu chỉ dựa vào trị số HA phòng khám.
Hầu hết các nghiên cứu hiện
nay đều cho thấy- ở người cao HA thật sự, nếu có tình trạng quá tải áp lực
thường xuyên do không hạ HA vào ban đêm sẽ làm gia tăng tổn thương cơ quan đích
và tăng sự cố tim mạch.(11,16,26)
Trong nghiên cứu này, tỉ lệ người có hạ HA ban đêm ở nhóm HA bình thường, nhóm
cao HA áo choàng trắng và nhóm cao HA thật sự không có khác biệt ý nghĩa thống
kê (p > 0,32). Ðiều này phù hợp theo y văn,- tình trạng hạ HA ban đêm tương tự
nhau ở những người có cao HA và có HA bình thường.(14)
Kết luận- :
Cao HA áo choàng trắng là
hiện tượng thường gặp trên lâm sàng trên những BN cao HA giai đoạn 1 và 2. Việc
xác định nhóm người này có ý nghĩa quan trọng giúp BN tránh việc sử dụng thuốc
hạ áp không cần thiết (trừ khi có tổn thương cơ quan đích). Việc chẩn đoán cần
kết hợp đo HA tại nhà và sử dụng kỹ thuật theo dõi HA 24 giờ trước khi quyết
định điều trị thuốc, đặc biệt là những BN nữ, tuy nhiên cần có những nghiên cứu
sâu rộng hơn nữa để có thể đánh giá đầy đủ hơn.
-Summary
Evaluation
of white coat hypertension by Ambulatory Blood Pressure Monitoring
Objective: to evaluate the prevalence of white coat
hypertension at the consulting department at MEDIC and circadian rhythm in
normotensives, white coat hypertensives and true hypertensives.
Methods: 67 participants including 20 normo-tensive subjects
(BP <140/90mmHg) and 47 untreated subjects with high blood pressure in office
readings (stage 1 & 2 with BP range :140-179 mmHg for systolic BP readings,
90-109mmHg for diasolic BP readings) were evaluated by 24 hr ambulatory blood
pressure monitoring (ABPM).
Results: 13 of 47 (27.7%) untreated subjects with high BP in
office readings have- mean daytime BP readings- <135/85 mmHg,- defined as white
coat hypertension (WCH) by ABPM.- WCH was diagnosed- in- 9 of 21 females with
high BP in office readings (42.8%) and in 4 of 26 males with high BP in office
readings (15.4%) (p <0.05). 55% of- normotensives were dippers and 45% were
nondippers; 46% of- WCH were dipper, 54% were non-dippers; 41.6% of true
hypertensives were dippers and 58.4 % were non-dippers (p > 0,32).
Conclusion: WCH is a common phenomenon in clinical practice.-
Its prevalence is more than 20% in office hypertensives. There is higher
prevalence in women than men, but further studies are needed.-
Tài liệu tham khảo
1. Mancia
G, Di Rienzo M, parati G. Ambulatory blood pressure monitoring use in
hypertension research and clinical practice Hypertension 1993;21 : 510-524
2. O-Brien
E, Atkin N, O-Malley K. Defining normal ambulatory blood pressure from
population studies. Am J hypertens. 1993.6:201s-206s
3.
Pickering T.G. Ambulatory monitoring and the definition of hypertension. J
Hypertens. 1992;10:401-409
4.
Pickering T.G, James GD, Boddie C, Harshfield GA, Blank S, Laragh JH. How common
White Coat Hypertension - JAMA 1988;259:225-228
5. Waeber
B, Scherre U, Petrillo A, et all. Are some hypertensive patient overtreated- A
prospective study of ambulatory blood pressure recording. Lancet 1987;2:732-34
6. Coats
AJS, Clark S, Conway J. Analysis of ambulatory blood pressure data. J Hypertens.
1991,9 (suppl 8): S19-S21
7. Frattola
Ambulatory, Prati G, Cuspidi C, Albini F, Mancia G. Prognostic value of 24 hour
blood pressure variability. J Hypertens. 1993,11:1133-37.
8. Robert
Fagard, Jan Staessen, LutgardThijs. Twenty four hour blood pressure measurement
analytic aspects. Blood Press Monit. 1996 1(suppl 1): S23-S25
9. G
Mancia, WB White. Current Aspects: 24 hour Blood Pressure. ICI-Pharmaceuticals
feb/1991
10.
Giuseppe Mancia, Roberto Sega,Callisto Bravi.Ambulatory blood pressure
normality: results from the PAMELA study. J- Hypertens- 1995, 13 : 1377-1390
11.
Pickering TG.. Clinical aspects of twenty four hour ambulatory blood pressure
monitoring. Blood Press Monit. 9/1996.1(suppl 1):S17-S21
12. WB
White. Twenty four hour blood pressure load and hypertensive target organ
involvement. Blood Press Monit. 1996 1(suppl 1): S27-S30
13. The
Sixth- Report- of the Joint National Committee on
Prevention,Detection,Evaluation, and Treatment of High Blood- Pressure-JNC VI-
NIH- No. 98-4080, Nov 1997
14. Norman
M.Kaplan. Measurement of blood pressure. Clinical Hypertension. 7th
edition. Willams & Wilkins. 1998. P 19-39
15.
Pickering TG. White Coat Hypertension. Curr Opin Nephrol Hypertens. 1996;5:
192-198
16. Henry L
Elliot. How to lower Blood Pressure. Current issues in Cardiovascular Therapy.
The 1st Edition. 1997.p 1-17
17. Glen
SK, Elliot HL, Curzio JL. White coat hypertension as ambulatory cause of
cardiovascular dysfunction. Lancet. 1996.348:654-657.
18.
Verdecchia, Schilliaci G.White coat hypertension. Lancet. 1996c;348:1443-1445
19.
Pierdomenico SP, Lapena D, Guglielmi MD. Target organ status and serum lipids in
patients with white coat hypertension. Hypertension 1995; 26:801-807.
20.Cavallini MC, Roman MJ, Pickering Tg. Is white coat hypertension associated
with arterial disease of left ventricular hypertrophy- Hypertension 1995;
26:413-19.
-
21.Zakopoulos N, Stamatelopoulos. 24h blood pressure profile affects the left
ventricle independently of the pressure level. Am J Hypertens. 1997;10: 168-174.
22.Platini
- P, Mornimo P, .Target organ damage in stage I hypertensive subjects with white
coat and sustained hypertension: results from Harvest study. Hypertension- 1998
Jan; 31 (1); 57-63
23.Mochizuki Y, Okutami M, Donfeng Y.Limited reproducibility of- circadian
variation in blood pressure dippers and non-dippers. Am- J- Hypertens- 1998-
Apr;11(4 Pt 1) :403-9
24.Abasolo
Galdos RM, Aizpuru BF,Mar Medina. White coat and non-dipper hypertension in
patients recently diagnosed with mild hypertension. Aten Primaria 1999 Apr-
15;23(6): 332-8- (Abstract)
25.Verdecchia P. White coat hypertension in adults and children. Blood Press
Monit 1999 Jun;4(3):175-179.
26. Mallion
JM,Baguet JP,Siche JP, Tremel- F,De Gaudemaris R. Clinical value of ambulatory
blood pressure monitoring. J- Hypertens 1999 May; 17(5):585-95