Carvedilol
là một đối kháng thụ thể giao cảm b
có hoạt tính đối kháng thụ thể a.
Thuốc được chấp thuận dùng tại Hoa Kỳ vào tháng 9/1995 để điều trị cao huyết áp
(HA) vô căn, và đến năm 1997, trở thành thuốc chẹn thụ thể giao cảm đầu tiên
được chấp thuận để điều trị suy tim có triệu chứng.
Đặc tính dược lực và dược
động học
Carvedilol là
một aryloxypropanolamin triệt quang có ái tính với mỡ làm giăn các tiền mao mạch
thông qua việc chẹn thụ thể a lẫn chẹn không chọn lọc thụ thể b, và không có tác dụng giao cảm nội tại. Thuốc có hoạt tính
ổn định màng kém hơn propanolol. So sánh tác dụng đối kháng thụ thể
b theo milligram, carvedilol mạnh hơn
propranolol gấp 2 đến 4 lần. So với labetalol, một thuốc đối kháng thụ thể
a và b dùng trong điều trị cao HA có tỉ số chẹn a1/b là 1:4, th́ tỉ số này của carvedilol
là 1:10. V́ thế, -carvedilol ít gây tác dụng phụ do chẹn thụ thể
a1 hơn labetalol.
Hoạt tính
giăn mạch của carvedilol là do khả năng chẹn thụ thể a1, tuy ở nồng độ cao nó cũng chẹn calci. Thuốc không tác dụng
trên thụ thể angiotensin. Một số thuốc chẹn b khác cũng có tác dụng giăn mạch (Bảng 1).
Trên người
b́nh thường hoặc người cao HA, carvedilol được hấp thu nhanh và hoàn toàn sau
khi uống. Thể tích phân bố vào khoảng 1,5 đến 2 lít/kg cân nặng, nói lên một sự
phân bố đáng kể ở các mô ngoài ḷng mạch. Nồng độ đỉnh huyết tương đạt được
trong 1 đến 2 giờ. Khi uống- thuốc trong bữa ăn, sự hấp thu bị chậm thêm từ 60
đến 135 phút. Ở gan, các đồng phân lập thể của carvedilol được chuyển hóa một
một cách chọn lọc. Trong huyết tương, 98% thuốc gắn với protein, chủ yếu là
albumin. Thời gian bán thải của carvedilol vào khoảng 7 đến 10 giờ.
Ở gan, carvedilol được ôxy-hóa
ṿng thơm và glucuronyl-hóa. Sau đó các chất chuyển hóa từ quá tŕnh ôxy-hóa
được liên hợp với glucuronid và sulfat, và những chất liên hợp này được tiết qua
mật và thải trong phân; chỉ có 16% là được thải qua nước tiểu. Một số chất
chuyển hóa của carvedilol có hoạt tính đối kháng thụ thể b,
trong đó chất 4-hydroxyphenyl có hoạt tính này mạnh hơn carvedilol khoảng 13
lần. Các chất chuyển hóa cũng có một tác dụng giăn mạch nhẹ.
Carvedilol
chậm thải trừ ở BN trên 65 tuổi, ở các đối tượng này nồng độ carvedilol trong
huyết tương cao hơn người trẻ 50%. Người mắc bệnh gan cũng có nồng độ carvedilol
trong huyết tương cao hơn, nhưng thời gian bán hủy của thuốc không thay đổi. BN
có bệnh thận cũng có nồng độ carvedilol trong huyết tương tăng chút ít; dược
động học của carvedilol không bị biến đổi ở người đang được chạy thận nhân tạo.
Các thuốc làm tăng hoạt tính cytochrome P-450 2D 6 ở gan, như rifampin, có thể
làm tăng thải trừ carvedilol. Hydrochlorothiazid không ảnh hưởng đến dược động
học của carvedilol, và carvedilol không ảnh hưởng đến dược động học của
warfarin. Nồng độ digoxin trong huyết tương tăng nhẹ ở người dùng carvedilol.
BN suy tim
(đặc biệt suy tim độ IV theo phân loại NYHA) có nồng độ carvedilol trong huyết
tương cao hơn người b́nh thường cùng tuổi. Suy tim làm phù niêm mạc ruột, nên có
thể làm giảm sự hấp thu thuốc. Giảm cung lượng tim, giảm tưới máu và sung huyết
gan trong suy tim có thể tác động đến chuyển hóa của thuốc ở gan; các yếu tố này
có thể ảnh hưởng đến dược động học của carvedilol.
Bảng 1. Đặc tính dược lư học của các
thuốc đối kháng thụ thể b có hoạt tính giăn mạch
|
Thuốc
|
Hiệu lực chẹn thụ thể b*
|
Chẹn b chọn lọc
|
Hoạt tính giao cảm nội tại
|
Hoạt tính chẹn thụ thể a
|
Tác dụng giăn mạch trực tiếp
|
|
Bucindolol
|
1,0
|
không
|
không
|
không
|
Có
|
|
Carvedilol
|
2,4
|
không
|
không
|
có
|
không
|
|
Labetalol
|
0,3
|
không
|
có
|
có
|
không
|
|
Pindolol
|
6,0
|
không
|
có
|
không
|
không
|
* so với propranolol mà
hiệu lực được qui định là 1,00
Hiệu quả lâm sàng
Carvedilol đă
được nghiên cứu trên người bệnh suy tim, cao HA, và bệnh thiếu máu cơ tim cục
bộ.
Suy tim ứ huyết
Từ nhiều năm
nay, các thuốc đối kháng thụ thể b bị chống chỉ định dùng cho BN suy tim v́ tác dụng âm tính
trên sự co bóp của cơ tim. Tuy nhiên, hiện nay người ta biết rằng diễn tiến của
suy tim mạn có thể chịu ảnh hưởng bất lợi bởi sự hoạt hóa thần kinh nội tiết của
hệ thống renin-angiotensin-aldosteron và hoạt hóa hệ thần kinh giao cảm. Trị
liệu với thuốc ức chế men chuyển (ƯCMC) đă làm tăng khả năng sống c̣n và làm
giảm tần suất biến chứng trên BN suy tim, và ngày càng có thêm bằng chứng là sự
điều biến của hệ giao cảm do chẹn thụ thể b có thể có tác dụng thuận lợi cho BN suy tim.
Người bệnh
suy tim có tăng hoạt lực giao cảm gây ra bất dung nạp với t́nh trạng gắng sức,
có bất thường huyết động học và tăng tỉ lệ tử vong. Tăng trương lực giao cảm có
thể làm tăng hoạt tính renin và angiotensin ở các BN này, dẫn đến ứ nước và
muối, co mạch, và làm tăng tiền tải và hậu tải cho thất. Catecholamin dư thừa có
thể làm tăng nhịp tim và gây co mạch vành, nên làm giảm lượng máu đến cơ tim và
giảm sự co bóp cơ tim. Catecholamin cũng có thể kích thích sự tăng trưởng và gây
nên một kích xúc (stress) ôxy-hóa ở các tế bào cơ tim đă hoàn toàn biệt hóa; hai
yếu tố này có thể kích hoạt quá tŕnh chết tế bào (apoptosis) đă định trước.
Cuối cùng, catecholamin có thể làm tăng nguy cơ đột tử ở BN suy tim do ảnh hưởng
bất lợi đến tính chất điện sinh lư của tim suy và do việc gây hạ kali-máu, hậu
quả là hạ thấp ngưỡng dẫn đến rung thất.
Năm 1975, các
thuốc chẹn b như practolol và alprenolol đă chứng
tỏ là làm giảm triệu chứng, cải thiện sự dung nạp đối với gắng sức và chức năng
thất trái ở người bị bệnh cơ tim giăn nở. Sau đó, có một loạt nghiên cứu có đối
chứng với giả dược bao gồm việc dùng các thuốc chẹn
b khác nhau cho BN mắc bệnh cơ tim giăn
nở vô căn và bệnh cơ tim thiếu máu cục bộ. Các thuốc được nghiên cứu bao gồm
thuốc đối kháng chọn lọc thụ thể b1 như metoprolol và bisoprolol, đồng vận và đối
kháng thụ thể b từng phần như practolol, alprenolol
và acebutolol, các đối kháng thụ thể b không chọn lọc và các thuốc giăn mạch như bucindolol,
labetalol và carvedilol. Hầu hết các nghiên cứu này kéo dài từ 1 đến 6 tháng,
đều không thấy lợi điểm hoặc chỉ có một vài cải thiện nào đó về chức năng huyết
động, các triệu chứng, giảm số lần nhập viện, tăng dung nạp với gắng sức và một
môi trường nội tiết thần kinh tốt hơn. Mặc dù không có lợi ích về mặt sống c̣n,
các nghiên cứu này cho thấy có thể dùng thuốc chẹn b cho BN suy tim với một độ an toàn hợp lư và một lợi ích lâm
sàng nào đó. Ngoài ra, một vài nghiên cứu đối chứng với giả dược gợi ư rằng
thuốc chẹn b
làm giảm tử vong, đặc biệt là nguy cơ đột tử, ở những BN c̣n sống sau nhồi máu
cơ tim có rối loạn chức năng thất trái ở mức độ vừa phải.
Bằng chứng về
hiệu quả của carvedilol trên BN suy tim chủ yếu bắt nguồn từ hai nghiên cứu sau:
Ÿ Nghiên cứu US. Carvedilol Heart
Failure Program trên 1094 BN có phân suất tống máu của thất <35% và có
triệu chứng độ II, III hoặc IV theo phân loại NYHA. Các BN được đưa vào một
trong 4 nghiên cứu có đối chứng với giả dược, kéo dài từ 6-12 tháng, dựa vào khả
năng hoàn tất test đi bộ 6 phút. Họ được nhận vào nghiên cứu suy tim nhẹ khi có
thể đi được 450 - 550 m trong test đi bộ ban đầu, hoặc vào hai nghiên cứu suy
tim vừa nếu họ đi được 150-425 m, và vào nghiên cứu suy tim nặng nếu họ đi dưới
150 m. Đa số BN được điều trị theo qui ước, bao gồm thuốc ức chế men chuyển
(ƯCMC), lợi tiểu và digoxin. Bất luận độ nặng như thế nào, t́nh trạng lâm sàng
của BN phải ổn định, thể hiện ở chỗ không phải nhập viện hay thay đổi thuốc điều
trị suy tim trong ṿng tháng trước. Tiếp đến, BN phải trải qua 2 tuần làm quen
với carvedilol liều 6,25 mg, ngày hai lần, sau đó, tùy theo nghiên cứu, họ được
chọn ngẫu nhiên để dùng giả dược hoặc carvedilol điều chỉnh liều để đạt đến 25
hoặc 50 mg -
2 lần/ngày.
Trong nghiên
cứu suy tim nhẹ, các chỉ số đánh giá cuối (tức là suy tim chậm tiến triển đến tử
vong hoặc nhập viện, hoặc phải thường xuyên tăng thuốc điều trị suy tim) giảm
được 48% trong một thời gian điều trị trung b́nh là 7 tháng (P=0,008). Trong hai
nghiên cứu trên BN suy tim vừa, không thấy có sự thay đổi về dung nạp với gắng
sức do hiệu quả của carvedilol. C̣n trong nghiên cứu trên BN suy tim nặng, chất
lượng cuộc sống, đánh giá bằng mẫu câu hỏi chuẩn, không bị ảnh hưởng bởi
carvedilol.
Nhiều chỉ số
cuối thứ yếu đă được qui định trước trong các nghiên cứu này, bao gồm sự thay
đổi độ NYHA, đánh giá lâm sàng toàn diện bởi người bệnh và thầy thuốc, và nhập
viện v́ các vấn đề tim mạch. Trong cả bốn nghiên cứu, ít ra cũng có một khuynh
hướng cải thiện mức độ NYHA, gắn với một sự gia tăng phân suất tống máu thất
trái. Theo đánh giá toàn diện bởi thầy thuốc và người bệnh ở BN dùng carvedilol
cho thấy chất lượng cuộc sống cao hơn đáng kể so với giả dược trong phần lớn các
nghiên cứu.
Tuy tử vong
không được xem là một chỉ số đánh giá được định trước, nhưng tỉ lệ tử vong giảm
ở nhóm được điều trị với carvedilol, nên nghiên cứu này đă kết thúc vào tháng
3/95 theo khuyến cáo của ủy ban theo dơi số liệu và độ-an toàn. Dựa vào phân
tích điều trị theo dự định (intention-to-treat analysis), nguy cơ tử vong chung
giảm đáng kể (gần 65%) trong nhóm carvedilol so với nhóm chứng (3,2% so với
7,8%). Tử suất ở BN độ NYHA II giảm 68% so với nhóm chứng (1,9% so với 5,9%) và
ở BN có triệu chứng thuộc độ NYHA III giảm 65% (4,2% so với 1,1%). Tử suất giảm
tương tự đối với BN bệnh cơ tim thiếu máu và không thiếu máu. Những phân tích
này dựa vào tổng số 53 trường hợp tử vong trên 1094 BN được nghiên cứu (xảy ra
trung b́nh 6,5 tháng). Lúc mới được báo cáo, các kết quả này đă bị chỉ trích v́
không tính đến tử vong xảy ra trong giai đoạn làm quen trước khi chọn ngẫu
nhiên. Tuy nhiên, khi xét đến biến cố này, kết quả vẫn cho thấy lợi ích của
carvedilol trên tử suất.
Tuy vậy, vẫn
c̣n nhiều vấn đề khi lư giải kết quả của nghiên cứu US Carvedilol Heart
Failure Program. Mức giảm được báo cáo trong tử vong chung bao gồm dữ liệu
từ một số thử nghiệm mà kết quả ban đầu không thấy lợi ích trị liệu có ư nghĩa.
Trong t́nh huống như vậy, việc gán các giá trị ư nghĩa cho các kết quả khác là
việc rất phức tạp, và các giá trị như thế cần được giải thích một cách thận
trọng.
Ÿ Nghiên cứu ở Úc và Tân Tây Lan
trên 415 BN có tiền căn nhồi máu cơ tim, có phân suất tống máu thấp hơn 45% và
các triệu chứng độ I, II, hoặc III NYHA. Nghiên cứu được thiết kế để đánh giá
tác dụng lâm sàng của carvedilol trên BN suy tim nhẹ và vừa do bệnh cơ tim thiếu
máu cục bộ đă điều trị với lợi tiểu và ƯCMC mà t́nh trạng đă ổn định ít nhất một
tháng trước khi đưa vào nghiên cứu. Tất cả BN đều được khởi trị bằng carvedilol
(3,125 mg ngày 2 lần, sau đó 6,25 mg ngày 2 lần, mỗi đợt từ 1 đến 2 tuần), tiếp
đến sẽ được chọn ngẫu nhiên theo tỉ lệ 1:1 để dùng carvedilol hoặc giả dược, với
liều cao nhất dung nạp được (lên đến 25 mg, ngày 2 lần) và duy tŕ trong 18 đến
24 tháng. Kết quả đánh giá là tử vong hoặc nhập viện v́ bất kỳ lư do ǵ. Sau
điều trị - 18 tháng, tỉ lệ tử vong hoặc nhập viện ở nhóm carvedilol, so
với-nhóm giả dược, thấp hơn 26% (P=0,02).
Kết
quả của hai nghiên cứu lớn nói trên cho thấy thuốc có tác dụng hữu ích trên BN
suy tim mạn nhẹ và vừa. Dựa trên cơ sở này, Cơ Quan Quản Lư Thực Phẩm và-Dược
phẩm Hoa Kỳ (FDA) đă chấp thuận cho dùng carvedilol nhằm làm giảm sự tiến triển
lâm sàng của suy tim.
Cơ chế làm
chậm sự tiến triển suy tim của các thuốc chẹn b chưa được rơ. Có thể cơ chế này bao gồm sự điều ḥa theo
hướng kích thích các thụ thể b trong tim, điều biến các protein G ức chế sau thụ thể, tác dụng trên sự
tái cấu trúc thất trái, và một sự cải thiện trên chức năng thụ thể cảm áp mà
b́nh thường có thể ức chế sự phát xung giao cảm thái quá. Ngoài ra, thuốc có thể
làm giảm hiện tượng chết tế bào, một quá tŕnh liên can đến sự tiến triển của
suy tim.
Cao huyết
áp
Dựa trên
một nghiên cứu lâm sàng rộng lớn, carvedilol cũng được chấp thuận để dùng như
một thuốc đơn trị cho BN cao HA nhẹ và vừa, liều 6,25 - 25 mg, ngày 2 lần hoặc
phối hợp với các thuốc hạ áp khác. Trong các thử nghiệm lâm sàng so sánh, tác
dụng hạ áp của carvedilol tương tự với labetalol và các thuốc chẹn b
khác, lợi tiểu, captopril và nifedipin. Tuy nhiên, v́ giá cao hơn, không nên xem
carvedilol như là thuốc hàng đầu cho người bệnh cao HA không biến chứng.
Thiếu máu cục bộ cơ tim
Carvedilol
làm giảm tần suất đau thắt ngực và thiếu máu cơ tim do gắng sức ở BN đau thắt
ngực ổn định mạn tính. Trong các nghiên cứu so sánh nhỏ, hiệu quả của nó tương
tự như các đối kháng thụ thể b khác và với nifedipin. Tuy vậy, chỉ định này của carvedilol
chưa được chấp thuận tại Hoa Kỳ.
Sử dụng lâm sàng trên suy tim
Carvedilol
được chỉ định để làm chậm tiến triển lâm sàng của suy tim, như đă nêu ở đoạn
trên, cho BN suy tim nhẹ và vừa ở t́nh trạng ổn định (NYHA độ II hoặc III) do
nguyên nhân thiếu máu cục bộ hoặc do bệnh cơ tim, nhưng vẫn tiếp tục có triệu
chứng mặc dù đă được trị liệu chuẩn với thuốc ƯCMC và lợi tiểu. Cũng có thể dùng
carvedilol cho những BN không thể điều trị bằng ƯCMC. Các BN này có thể hoặc
không dùng digoxin, hydralazin, hoặc nitrat. Hiện có dạng thuốc viên với hàm
lượng 3,125-, 6,25-, 12,5-, và 25 mg.
Để điều trị
suy tim, liều dùng phải thích ứng cho từng BN và phải được giám sát chặt chẽ.
Trước khi khởi trị bằng carvedilol, liều của ƯCMC lợi tiểu (và digoxin) phải ổn
định. Liều carvedilol khởi đầu được khuyến nghị là 3,125 mg, ngày hai lần trong
ít nhất 2 tuần. Nếu dung nạp tốt, có thể tăng liều gấp đôi, tối thiểu mỗi 2 tuần
để đạt liều tối đa là 25 mg
- 2 lần/ngày ở BN cân nặng - 85 kg và 50 mg -
2 lần /ngày cho BN > 85 kg. Nên uống thuốc lúc no để làm chậm tốc độ hấp thu và
làm giảm tần suất các tác dụng phụ.
Trước mỗi lần
tăng liều, cần đánh giá t́nh trạng suy tim, các dấu hiệu sinh tồn và thể trọng,
v́ BN có thể có các triệu chứng (thường thoáng qua) của suy tim nặng lên hoặc
choáng váng trong quá tŕnh thích nghi với tác dụng chẹn thụ thể a
hoặc b. Giữ nước hoặc các triệu chứng của
suy tim xấu đi (ví dụ: khó thở tăng lên) có thể điều trị với liều lợi tiểu cao
hơn, dầu cho có thể phải giảm hoặc ngưng carvedilol. Choáng váng hoặc hạ HA
thường đáp ứng với giảm liều lợi tiểu hoặc ƯCMC, nhưng nếu kéo dài, đ̣i hỏi cần
phải giảm liều carvedilol. Liều carvedilol không được tăng cho đến khi đă ổn
định t́nh trạng suy tim xấu đi, HA hạ, hoặc nhịp chậm. Sự cải thiện các triệu
chứng chỉ rơ rệt khi liệu tŕnh carvedilol được duy tŕ trong nhiều tuần. Trên
BN mà t́nh trạng không cải thiện hoặc không xấu đi, cần tiếp tục carvedilol v́
có thể lợi ích trên thời gian sống thêm.
Bệnh nhân đă
dùng thuốc chẹn b liều tương đối
cao, đặc biệt BN thiếu máu cục bộ cơ tim hoặc BN dễ bị choáng váng khi dùng
thuốc chẹn a,
chỉnh liều carvedilol khởi đầu là 3,125 mg, đồng thời giảm liều các thuốc chẹn
b khác (tốt hơn ngưng thuốc) trong 1
đến 2 tuần, là cách tốt nhất để bảo đảm sự dung nạp. Nếu carvedilol được dung
nạp, có thể tăng liều như đă khuyến nghị.
Chống
chỉ định
dùng carvedilol
cho BN suy tim nặng mất bù, kể cả những người cần phải dùng thuốc tăng co bóp cơ
tim bằng đường tĩnh mạch. Những BN này có khả năng lệ thuộc vào sự kích thích
giao cảm và do vậy sẽ không dung nạp được thuốc chẹn
b. Hơn nữa, thể tích tuần hoàn của BN
có thể không được ổn định đúng mức, nên dễ xảy ra các triệu chứng của giăn mạch
hoặc suy tim nặng hơn.
Các
chống chỉ định khác của carvedilol trên BN suy tim bao gồm nhịp chậm quá mức, hội chứng suy nút
xoang, blốc nhĩ-thất không hoàn toàn hay hoàn toàn, trừ khi đang đặt máy tạo
nhịp vĩnh viễn. Carvedilol không có tác dụng phụ trên chức năng phổi ở người
b́nh thường, tuy nhiên vẫn chống chỉ định trên BN bị suyễn. Cẩn thận khi dùng
cho người bị tiểu đường, v́ thuốc có thể che lấp các dấu hiệu của hạ đường
huyết. Tính an toàn của thuốc trên phụ nữ có thai, đang cho con bú cũng như tính
an toàn và hiệu lực trên trẻ suy tim chưa được xác lập.
Tác dụng phụ
Trong nghiên
cứu US Carvedilol Heart Failure Program, 5% số BN phải ngưng dùng
carvedilol v́ suy tim nặng lên, choáng váng hoặc nhịp chậm. Các tác dụng phụ
thường gặp khác là phù, nhịp chậm, hạ HA, buồn nôn, tiêu chảy và mờ mắt. Họa
hoằn, carvedilol gây suy giảm chức năng thận có thể hồi phục được, thường gặp ở
BN có HA thấp, suy thận tiềm tàng, hoặc bệnh mạch máu lan tỏa. Bệnh nhân có nguy
cơ rối loạn chức năng thận cần được giám sát và ngưng thuốc khi chức năng thận
xấu đi.
Tổn thương
nhẹ tế bào gan có thể xảy ra, nhưng không có tử vong nào được ghi nhận do suy
gan. Trên BN đang dùng carvedilol, nếu xét nghiệm chức năng gan trở nên bất
thường th́ phải ngưng thuốc. Ngoài ra, không được dùng thuốc cho những BN có sẵn
bệnh gan.
Quá liều
carvedilol, khi dùng đơn độc hoặc phối hợp, đă được ghi nhận. Các triệu chứng
bao gồm hạ-HA- và nhịp chậm. Trong trường hợp nhịp chậm thái quá, có thể dùng
atropin, glucagon, dobutamin, hoặc isoproterenol đường tĩnh mạch để hỗ trợ chức
năng thất đă suy giảm. Trong trường hợp hạ HA nặng, có thể dùng nor-epinephrin
hoặc epinephrin, và nên dùng isoproterenol hoặc aminophyllin qua đường tĩnh mạch
cho trường hợp co thắt phế quản do thuốc gây nên.