WHO definition of HEALTH:
Health is a state of complete physical, mental and social well-being and not merely the absence of disease or infirmity.


Thời sự y dược học

Tháng 12/2001
Tháng 10/2001
Tháng 08/2001
Tháng 06/2001
Tháng 04/2001

Tháng 02/2001
Tháng 12/2000
Tháng 10/2000
Tháng 08/2000
Tháng 06/2000
Tháng 04/2000
Tháng 02/2000
Tháng 12/1999
Tháng 10/1999
Tháng 08/1999
Tháng 06/1999
Tháng 04/1999
Tháng 02/1999
Tháng 12/1998
Tháng 10/1998
Tháng 08/1998
Tháng 06/1998
Tháng 04/1998
Tháng 02/1998

 

 



www YKHOANET

TRANG MỤC

B́nh luận y khoa

Tin thời sự y tế

Tin Y khoa Thế giới

Địa chỉ y khoa

Hộp thư bạn đọc

Tạp chí y khoa

Forum

 

ĐẠI HỌC  Y KHOA

ĐH Y Khoa Hà Nội

ĐH Y Dược TPHCM

ĐH Y Khoa Thái Nguyên

ĐH Y Khoa Huế

ĐH Y Khoa Thái B́nh

ĐH Y Tế Công Cộng

 

SỬ dỤng Carvedilol trong điỀu trỊ suy tim mẠn

NguyỄn Văn PhưỢng*

 


Carvedilol là một đối kháng thụ thể giao cảm b có hoạt tính đối kháng thụ thể a. Thuốc được chấp thuận dùng tại Hoa Kỳ vào tháng 9/1995 để điều trị cao huyết áp (HA) vô căn, và đến năm 1997, trở thành thuốc chẹn thụ thể giao cảm đầu tiên được chấp thuận để điều trị suy tim có triệu chứng.

Đặc tính dược lực và dược động học

Carvedilol là một aryloxypropanolamin triệt quang có ái tính với mỡ làm giăn các tiền mao mạch thông qua việc chẹn thụ thể a lẫn chẹn không chọn lọc thụ thể b, và không có tác dụng giao cảm nội tại. Thuốc có hoạt tính ổn định màng kém hơn propanolol. So sánh tác dụng đối kháng thụ thể b theo milligram, carvedilol mạnh hơn propranolol gấp 2 đến 4 lần. So với labetalol, một thuốc đối kháng thụ thể ab dùng trong điều trị cao HA có tỉ số chẹn a1/b là 1:4, th́ tỉ số này của carvedilol là 1:10. V́ thế, -carvedilol ít gây tác dụng phụ do chẹn thụ thể a1 hơn labetalol.

Hoạt tính giăn mạch của carvedilol là do khả năng chẹn thụ thể a1, tuy ở nồng độ cao nó cũng chẹn calci. Thuốc không tác dụng trên thụ thể angiotensin. Một số thuốc chẹn b khác cũng có tác dụng giăn mạch (Bảng 1).

Trên người b́nh thường hoặc người cao HA, carvedilol được hấp thu nhanh và hoàn toàn sau khi uống. Thể tích phân bố vào khoảng 1,5 đến 2 lít/kg cân nặng, nói lên một sự phân bố đáng kể ở các mô ngoài ḷng mạch. Nồng độ đỉnh huyết tương đạt được trong 1 đến 2 giờ. Khi uống- thuốc trong bữa ăn, sự hấp thu bị chậm thêm từ 60 đến 135 phút. Ở gan, các đồng phân lập thể của carvedilol được chuyển hóa một một cách chọn lọc. Trong huyết tương, 98% thuốc gắn với protein, chủ yếu là albumin. Thời gian bán thải của carvedilol vào khoảng 7 đến 10 giờ.

Ở gan, carvedilol được ôxy-hóa ṿng thơm và glucuronyl-hóa. Sau đó các chất chuyển hóa từ quá tŕnh ôxy-hóa được liên hợp với glucuronid và sulfat, và những chất liên hợp này được tiết qua mật và thải trong phân; chỉ có 16% là được thải qua nước tiểu. Một số chất chuyển hóa của carvedilol có hoạt tính đối kháng thụ thể b, trong đó chất 4-hydroxyphenyl có hoạt tính này mạnh hơn carvedilol khoảng 13 lần. Các chất chuyển hóa cũng có một tác dụng giăn mạch nhẹ.

Carvedilol chậm thải trừ ở BN trên 65 tuổi, ở các đối tượng này nồng độ carvedilol trong huyết tương cao hơn người trẻ 50%. Người mắc bệnh gan cũng có nồng độ carvedilol trong huyết tương cao hơn, nhưng thời gian bán hủy của thuốc không thay đổi. BN có bệnh thận cũng có nồng độ carvedilol trong huyết tương tăng chút ít; dược động học của carvedilol không bị biến đổi ở người đang được chạy thận nhân tạo. Các thuốc làm tăng hoạt tính cytochrome P-450 2D 6 ở gan, như rifampin, có thể làm tăng thải trừ carvedilol. Hydrochlorothiazid không ảnh hưởng đến dược động học của carvedilol, và carvedilol không ảnh hưởng đến dược động học của warfarin. Nồng độ digoxin trong huyết tương tăng nhẹ ở người dùng carvedilol.

BN suy tim (đặc biệt suy tim độ IV theo phân loại NYHA) có nồng độ carvedilol trong huyết tương cao hơn người b́nh thường cùng tuổi. Suy tim làm phù niêm mạc ruột, nên có thể làm giảm sự hấp thu thuốc. Giảm cung lượng tim, giảm tưới máu và sung huyết gan trong suy tim có thể tác động đến chuyển hóa của thuốc ở gan; các yếu tố này có thể ảnh hưởng đến dược động học của carvedilol.

Bảng 1. Đặc tính dược lư học của các thuốc đối kháng thụ thể b có hoạt tính giăn mạch

 

Thuốc

Hiệu lực chẹn thụ thể b*

Chẹn b chọn lọc

Hoạt tính giao cảm nội tại

Hoạt tính chẹn thụ thể a

Tác dụng giăn mạch trực tiếp

Bucindolol

1,0

không

không

không

Carvedilol

2,4

không

không

không

Labetalol

0,3

không

không

Pindolol

6,0

không

không

không

* so với propranolol mà hiệu lực được qui định là 1,00

Hiệu quả lâm sàng

Carvedilol đă được nghiên cứu trên người bệnh suy tim, cao HA, và bệnh thiếu máu cơ tim cục bộ.

Suy tim ứ huyết

Từ nhiều năm nay, các thuốc đối kháng thụ thể b bị chống chỉ định dùng cho BN suy tim v́ tác dụng âm tính trên sự co bóp của cơ tim. Tuy nhiên, hiện nay người ta biết rằng diễn tiến của suy tim mạn có thể chịu ảnh hưởng bất lợi bởi sự hoạt hóa thần kinh nội tiết của hệ thống renin-angiotensin-aldosteron và hoạt hóa hệ thần kinh giao cảm. Trị liệu với thuốc ức chế men chuyển (ƯCMC) đă làm tăng khả năng sống c̣n và làm giảm tần suất biến chứng trên BN suy tim, và ngày càng có thêm bằng chứng là sự điều biến của hệ giao cảm do chẹn thụ thể b có thể có tác dụng thuận lợi cho BN suy tim.

Người bệnh suy tim có tăng hoạt lực giao cảm gây ra bất dung nạp với t́nh trạng gắng sức, có bất thường huyết động học và tăng tỉ lệ tử vong. Tăng trương lực giao cảm có thể làm tăng hoạt tính renin và angiotensin ở các BN này, dẫn đến ứ nước và muối, co mạch, và làm tăng tiền tải và hậu tải cho thất. Catecholamin dư thừa có thể làm tăng nhịp tim và gây co mạch vành, nên làm giảm lượng máu đến cơ tim và giảm sự co bóp cơ tim. Catecholamin cũng có thể kích thích sự tăng trưởng và gây nên một kích xúc (stress) ôxy-hóa ở các tế bào cơ tim đă hoàn toàn biệt hóa; hai yếu tố này có thể kích hoạt quá tŕnh chết tế bào (apoptosis) đă định trước. Cuối cùng, catecholamin có thể làm tăng nguy cơ đột tử ở BN suy tim do ảnh hưởng bất lợi đến tính chất điện sinh lư của tim suy và do việc gây hạ kali-máu, hậu quả là hạ thấp ngưỡng dẫn đến rung thất.

Năm 1975, các thuốc chẹn b như practolol và alprenolol đă chứng tỏ là làm giảm triệu chứng, cải thiện sự dung nạp đối với gắng sức và chức năng thất trái ở người bị bệnh cơ tim giăn nở. Sau đó, có một loạt nghiên cứu có đối chứng với giả dược bao gồm việc dùng các thuốc chẹn b khác nhau cho BN mắc bệnh cơ tim giăn nở vô căn và bệnh cơ tim thiếu máu cục bộ. Các thuốc được nghiên cứu bao gồm thuốc đối kháng chọn lọc thụ thể b1 như metoprolol và bisoprolol, đồng vận và đối kháng thụ thể b từng phần như practolol, alprenolol và acebutolol, các đối kháng thụ thể b không chọn lọc và các thuốc giăn mạch như bucindolol, labetalol và carvedilol. Hầu hết các nghiên cứu này kéo dài từ 1 đến 6 tháng, đều không thấy lợi điểm hoặc chỉ có một vài cải thiện nào đó về chức năng huyết động, các triệu chứng, giảm số lần nhập viện, tăng dung nạp với gắng sức và một môi trường nội tiết thần kinh tốt hơn. Mặc dù không có lợi ích về mặt sống c̣n, các nghiên cứu này cho thấy có thể dùng thuốc chẹn b cho BN suy tim với một độ an toàn hợp lư và một lợi ích lâm sàng nào đó. Ngoài ra, một vài nghiên cứu đối chứng với giả dược gợi ư rằng thuốc chẹn b làm giảm tử vong, đặc biệt là nguy cơ đột tử, ở những BN c̣n sống sau nhồi máu cơ tim có rối loạn chức năng thất trái ở mức độ vừa phải.

Bằng chứng về hiệu quả của carvedilol trên BN suy tim chủ yếu bắt nguồn từ hai nghiên cứu sau:

Ÿ Nghiên cứu US. Carvedilol Heart Failure Program trên 1094 BN có phân suất tống máu của thất <35% và có triệu chứng độ II, III hoặc IV theo phân loại NYHA. Các BN được đưa vào một trong 4 nghiên cứu có đối chứng với giả dược, kéo dài từ 6-12 tháng, dựa vào khả năng hoàn tất test đi bộ 6 phút. Họ được nhận vào nghiên cứu suy tim nhẹ khi có thể đi được 450 - 550 m trong test đi bộ ban đầu, hoặc vào hai nghiên cứu suy tim vừa nếu họ đi được 150-425 m, và vào nghiên cứu suy tim nặng nếu họ đi dưới 150 m. Đa số BN được điều trị theo qui ước, bao gồm thuốc ức chế men chuyển (ƯCMC), lợi tiểu và digoxin. Bất luận độ nặng như thế nào, t́nh trạng lâm sàng của BN phải ổn định, thể hiện ở chỗ không phải nhập viện hay thay đổi thuốc điều trị suy tim trong ṿng tháng trước. Tiếp đến, BN phải trải qua 2 tuần làm quen với carvedilol liều 6,25 mg, ngày hai lần, sau đó, tùy theo nghiên cứu, họ được chọn ngẫu nhiên để dùng giả dược hoặc carvedilol điều chỉnh liều để đạt đến 25 hoặc 50 mg - 2 lần/ngày.

Trong nghiên cứu suy tim nhẹ, các chỉ số đánh giá cuối (tức là suy tim chậm tiến triển đến tử vong hoặc nhập viện, hoặc phải thường xuyên tăng thuốc điều trị suy tim) giảm được 48% trong một thời gian điều trị trung b́nh là 7 tháng (P=0,008). Trong hai nghiên cứu trên BN suy tim vừa, không thấy có sự thay đổi về dung nạp với gắng sức do hiệu quả của carvedilol. C̣n trong nghiên cứu trên BN suy tim nặng, chất lượng cuộc sống, đánh giá bằng mẫu câu hỏi chuẩn, không bị ảnh hưởng bởi carvedilol.

Nhiều chỉ số cuối thứ yếu đă được qui định trước trong các nghiên cứu này, bao gồm sự thay đổi độ NYHA, đánh giá lâm sàng toàn diện bởi người bệnh và thầy thuốc, và nhập viện v́ các vấn đề tim mạch. Trong cả bốn nghiên cứu, ít ra cũng có một khuynh hướng cải thiện mức độ NYHA, gắn với một sự gia tăng phân suất tống máu thất trái. Theo đánh giá toàn diện bởi thầy thuốc và người bệnh ở BN dùng carvedilol cho thấy chất lượng cuộc sống cao hơn đáng kể so với giả dược trong phần lớn các nghiên cứu.

Tuy tử vong không được xem là một chỉ số đánh giá được định trước, nhưng tỉ lệ tử vong giảm ở nhóm được điều trị với carvedilol, nên nghiên cứu này đă kết thúc vào tháng 3/95 theo khuyến cáo của ủy ban theo dơi số liệu và độ-an toàn. Dựa vào phân tích điều trị theo dự định (intention-to-treat analysis), nguy cơ tử vong chung giảm đáng kể (gần 65%) trong nhóm carvedilol so với nhóm chứng (3,2% so với 7,8%). Tử suất ở BN độ NYHA II giảm 68% so với nhóm chứng (1,9% so với 5,9%) và ở BN có triệu chứng thuộc độ NYHA III giảm 65% (4,2% so với 1,1%). Tử suất giảm tương tự đối với BN bệnh cơ tim thiếu máu và không thiếu máu. Những phân tích này dựa vào tổng số 53 trường hợp tử vong trên 1094 BN được nghiên cứu (xảy ra trung b́nh 6,5 tháng). Lúc mới được báo cáo, các kết quả này đă bị chỉ trích v́ không tính đến tử vong xảy ra trong giai đoạn làm quen trước khi chọn ngẫu nhiên. Tuy nhiên, khi xét đến biến cố này, kết quả vẫn cho thấy lợi ích của carvedilol trên tử suất.

Tuy vậy, vẫn c̣n nhiều vấn đề khi lư giải kết quả của nghiên cứu US Carvedilol Heart Failure Program. Mức giảm được báo cáo trong tử vong chung bao gồm dữ liệu từ một số thử nghiệm mà kết quả ban đầu không thấy lợi ích trị liệu có ư nghĩa. Trong t́nh huống như vậy, việc gán các giá trị ư nghĩa cho các kết quả khác là việc rất phức tạp, và các giá trị như thế cần được giải thích một cách thận trọng.

Ÿ Nghiên cứu ở Úc và Tân Tây Lan trên 415 BN có tiền căn nhồi máu cơ tim, có phân suất tống máu thấp hơn 45% và các triệu chứng độ I, II, hoặc III NYHA. Nghiên cứu được thiết kế để đánh giá tác dụng lâm sàng của carvedilol trên BN suy tim nhẹ và vừa do bệnh cơ tim thiếu máu cục bộ đă điều trị với lợi tiểu và ƯCMC mà t́nh trạng đă ổn định ít nhất một tháng trước khi đưa vào nghiên cứu. Tất cả BN đều được khởi trị bằng carvedilol (3,125 mg ngày 2 lần, sau đó 6,25 mg ngày 2 lần, mỗi đợt từ 1 đến 2 tuần), tiếp đến sẽ được chọn ngẫu nhiên theo tỉ lệ 1:1 để dùng carvedilol hoặc giả dược, với liều cao nhất dung nạp được (lên đến 25 mg, ngày 2 lần) và duy tŕ trong 18 đến 24 tháng. Kết quả đánh giá là tử vong hoặc nhập viện v́ bất kỳ lư do ǵ. Sau điều trị - 18 tháng, tỉ lệ tử vong hoặc nhập viện ở nhóm carvedilol, so với-nhóm giả dược, thấp hơn 26% (P=0,02).

Kết quả của hai nghiên cứu lớn nói trên cho thấy thuốc có tác dụng hữu ích trên BN suy tim mạn nhẹ và vừa. Dựa trên cơ sở này, Cơ Quan Quản Lư Thực Phẩm và-Dược phẩm Hoa Kỳ (FDA) đă chấp thuận cho dùng carvedilol nhằm làm giảm sự tiến triển lâm sàng của suy tim.

Cơ chế làm chậm sự tiến triển suy tim của các thuốc chẹn b chưa được rơ. Có thể cơ chế này bao gồm sự điều ḥa theo hướng kích thích các thụ thể b trong tim, điều biến các protein G ức chế sau thụ thể, tác dụng trên sự tái cấu trúc thất trái, và một sự cải thiện trên chức năng thụ thể cảm áp mà b́nh thường có thể ức chế sự phát xung giao cảm thái quá. Ngoài ra, thuốc có thể làm giảm hiện tượng chết tế bào, một quá tŕnh liên can đến sự tiến triển của suy tim.

Cao huyết áp

Dựa trên một nghiên cứu lâm sàng rộng lớn, carvedilol cũng được chấp thuận để dùng như một thuốc đơn trị cho BN cao HA nhẹ và vừa, liều 6,25 - 25 mg, ngày 2 lần hoặc phối hợp với các thuốc hạ áp khác. Trong các thử nghiệm lâm sàng so sánh, tác dụng hạ áp của carvedilol tương tự với labetalol và các thuốc chẹn b khác, lợi tiểu, captopril và nifedipin. Tuy nhiên, v́ giá cao hơn, không nên xem carvedilol như là thuốc hàng đầu cho người bệnh cao HA không biến chứng.

Thiếu máu cục bộ cơ tim

Carvedilol làm giảm tần suất đau thắt ngực và thiếu máu cơ tim do gắng sức ở BN đau thắt ngực ổn định mạn tính. Trong các nghiên cứu so sánh nhỏ, hiệu quả của nó tương tự như các đối kháng thụ thể b khác và với nifedipin. Tuy vậy, chỉ định này của carvedilol chưa được chấp thuận tại Hoa Kỳ.

Sử dụng lâm sàng trên suy tim

Carvedilol được chỉ định để làm chậm tiến triển lâm sàng của suy tim, như đă nêu ở đoạn trên, cho BN suy tim nhẹ và vừa ở t́nh trạng ổn định (NYHA độ II hoặc III) do nguyên nhân thiếu máu cục bộ hoặc do bệnh cơ tim, nhưng vẫn tiếp tục có triệu chứng mặc dù đă được trị liệu chuẩn với thuốc ƯCMC và lợi tiểu. Cũng có thể dùng carvedilol cho những BN không thể điều trị bằng ƯCMC. Các BN này có thể hoặc không dùng digoxin, hydralazin, hoặc nitrat. Hiện có dạng thuốc viên với hàm lượng 3,125-, 6,25-, 12,5-, và 25 mg.

Để điều trị suy tim, liều dùng phải thích ứng cho từng BN và phải được giám sát chặt chẽ. Trước khi khởi trị bằng carvedilol, liều của ƯCMC lợi tiểu (và digoxin) phải ổn định. Liều carvedilol khởi đầu được khuyến nghị là 3,125 mg, ngày hai lần trong ít nhất 2 tuần. Nếu dung nạp tốt, có thể tăng liều gấp đôi, tối thiểu mỗi 2 tuần để đạt liều tối đa là 25 mg - 2 lần/ngày ở BN cân nặng - 85 kg và 50 mg - 2 lần /ngày cho BN > 85 kg. Nên uống thuốc lúc no để làm chậm tốc độ hấp thu và làm giảm tần suất các tác dụng phụ.

Trước mỗi lần tăng liều, cần đánh giá t́nh trạng suy tim, các dấu hiệu sinh tồn và thể trọng, v́ BN có thể có các triệu chứng (thường thoáng qua) của suy tim nặng lên hoặc choáng váng trong quá tŕnh thích nghi với tác dụng chẹn thụ thể a hoặc b. Giữ nước hoặc các triệu chứng của suy tim xấu đi (ví dụ: khó thở tăng lên) có thể điều trị với liều lợi tiểu cao hơn, dầu cho có thể phải giảm hoặc ngưng carvedilol. Choáng váng hoặc hạ HA thường đáp ứng với giảm liều lợi tiểu hoặc ƯCMC, nhưng nếu kéo dài, đ̣i hỏi cần phải giảm liều carvedilol. Liều carvedilol không được tăng cho đến khi đă ổn định t́nh trạng suy tim xấu đi, HA hạ, hoặc nhịp chậm. Sự cải thiện các triệu chứng chỉ rơ rệt khi liệu tŕnh carvedilol được duy tŕ trong nhiều tuần. Trên BN mà t́nh trạng không cải thiện hoặc không xấu đi, cần tiếp tục carvedilol v́ có thể lợi ích trên thời gian sống thêm.

Bệnh nhân đă dùng thuốc chẹn b liều tương đối cao, đặc biệt BN thiếu máu cục bộ cơ tim hoặc BN dễ bị choáng váng khi dùng thuốc chẹn a, chỉnh liều carvedilol khởi đầu là 3,125 mg, đồng thời giảm liều các thuốc chẹn b khác (tốt hơn ngưng thuốc) trong 1 đến 2 tuần, là cách tốt nhất để bảo đảm sự dung nạp. Nếu carvedilol được dung nạp, có thể tăng liều như đă khuyến nghị.

Chống chỉ định dùng carvedilol cho BN suy tim nặng mất bù, kể cả những người cần phải dùng thuốc tăng co bóp cơ tim bằng đường tĩnh mạch. Những BN này có khả năng lệ thuộc vào sự kích thích giao cảm và do vậy sẽ không dung nạp được thuốc chẹn b. Hơn nữa, thể tích tuần hoàn của BN có thể không được ổn định đúng mức, nên dễ xảy ra các triệu chứng của giăn mạch hoặc suy tim nặng hơn.

Các chống chỉ định khác của carvedilol trên BN suy tim bao gồm nhịp chậm quá mức, hội chứng suy nút xoang, blốc nhĩ-thất không hoàn toàn hay hoàn toàn, trừ khi đang đặt máy tạo nhịp vĩnh viễn. Carvedilol không có tác dụng phụ trên chức năng phổi ở người b́nh thường, tuy nhiên vẫn chống chỉ định trên BN bị suyễn. Cẩn thận khi dùng cho người bị tiểu đường, v́ thuốc có thể che lấp các dấu hiệu của hạ đường huyết. Tính an toàn của thuốc trên phụ nữ có thai, đang cho con bú cũng như tính an toàn và hiệu lực trên trẻ suy tim chưa được xác lập.

Tác dụng phụ

Trong nghiên cứu US Carvedilol Heart Failure Program, 5% số BN phải ngưng dùng carvedilol v́ suy tim nặng lên, choáng váng hoặc nhịp chậm. Các tác dụng phụ thường gặp khác là phù, nhịp chậm, hạ HA, buồn nôn, tiêu chảy và mờ mắt. Họa hoằn, carvedilol gây suy giảm chức năng thận có thể hồi phục được, thường gặp ở BN có HA thấp, suy thận tiềm tàng, hoặc bệnh mạch máu lan tỏa. Bệnh nhân có nguy cơ rối loạn chức năng thận cần được giám sát và ngưng thuốc khi chức năng thận xấu đi.

Tổn thương nhẹ tế bào gan có thể xảy ra, nhưng không có tử vong nào được ghi nhận do suy gan. Trên BN đang dùng carvedilol, nếu xét nghiệm chức năng gan trở nên bất thường th́ phải ngưng thuốc. Ngoài ra, không được dùng thuốc cho những BN có sẵn bệnh gan.

Quá liều carvedilol, khi dùng đơn độc hoặc phối hợp, đă được ghi nhận. Các triệu chứng bao gồm hạ-HA- và nhịp chậm. Trong trường hợp nhịp chậm thái quá, có thể dùng atropin, glucagon, dobutamin, hoặc isoproterenol đường tĩnh mạch để hỗ trợ chức năng thất đă suy giảm. Trong trường hợp hạ HA nặng, có thể dùng nor-epinephrin hoặc epinephrin, và nên dùng isoproterenol hoặc aminophyllin qua đường tĩnh mạch cho trường hợp co thắt phế quản do thuốc gây nên.


Text Box: *Bác sĩ Khoa 22B BV Chợ Rẫy, lược dịch từ N Engl J Med 1998:339:1759-65 (William H. Frishman)
[include/content.htm]
 

 

Website YKHOANET.COM khai trương ngày 24/12/2000

Website YKHOANET - Y KHOA VIỆT NAM www.ykhoanet.com www.ykhoa.net 

In trang này     ►Phản hồi

Web Master: Dr PHAN XUAN TRUNG - drxuantrung@ykhoa.net