MỞ ĐẦU
Hạ natri máu
là rối loạn điện giải thường gặp nhất trong khoa săn sóc đặc biệt và đi kèm với
một tỷ lệ tử vong cao đáng kể.(1,2) Đôi khi các triệu chứng của hạ
natri máu có thể là lư do nhập viện, nhưng thông thường đây là một rối loạn
chuyển hóa đi kèm theo một bệnh chính khác. Nguyên nhân của hạ natri máu không
phải lúc nào cũng có thể xác định được một cách dễ dàng, do đó việc chẩn đoán
nguyên nhân nên được tiến hành theo từng bước một cách có hệ thống.(3)
Bên cạnh đó, để điều trị thích hợp phải dựa vào cơ chế sinh bệnh của hạ natri
máu.(4) Chúng tôi tŕnh bày một số kinh nghiệm qua hai trường hợp hạ
natri máu nặng có giảm áp suất thẩm thấu máu tại Khoa Săn sóc đặc biệt, BV Chợ
Rẫy.
TR̀NH BÀY BỆNH ÁN
Bệnh án
1. Một BN nữ 87 tuổi
nhập viện v́ đau và tím lạnh bàn chân phải. Chẩn đoán nhập viện là tắc động mạch
đùi chung phải cấp. Phẫu thuật cấp cứu lấy mảng xơ vữa và máu cục được tiến hành
ngay sau nhập viện. Trong số các xét nghiệm tiền phẫu có ion đồ với kết quả
(mEq/L): cNa+
138 - cK+ 4,9 - cCa++ 4,2 - cCl- 109. Sau mổ,
t́nh trạng tuần hoàn chân phải không có dấu hiệu cải thiện và BN vẫn c̣n đau
nhiều, tuy nhiên lúc này BN tỉnh táo hoàn toàn. Thuốc dùng sau mổ đáng lưu ư có
dextrose 5% (dùng pha heparin) khoảng 1000 mL/ngày và thỉnh thoảng có dextrose
30%.
Ngày hậu
phẫu thứ năm, BN vào hôn mê, lay gọi không biết, kích thích đau c̣n đáp ứng.
Nguyên nhân hôn mê lúc đầu được nghĩ là xuất huyết trong năo do biến chứng của
heparin hoặc hôn mê hạ đường huyết. Tuy nhiên, kết quả CT scan sọ năo và đường
máu th́ các chẩn đoán này được loại trừ. Đồng thời kết quả ion đồ sau đó cho
thấy có giảm natri máu nặng với: cNa+ 105 - cK+ 4,8 - cCa++
2,9 - cCl- 80. Nghĩ đến hôn mê do hạ natri máu và BN được chuyển khoa
săn sóc đặc biệt.
Khám tại
khoa săn sóc đặc biệt, ghi nhận BN mê, kích thích đau có đáp ứng. Mạch 100
lần/phút, huyết áp 120/70 mmHg, không phù và cũng không có dấu thiếu nước. Một
số xét nghiệm được thực hiện lại gồm: ion đồ cNa+ 103 - cK+
4,7 - cCa++ 3,9 - cCl-
95. Áp suất thẩm thấu máu 213 mosm/kg. Ion đồ niệu cNa+ 70 - cK+
70,2 - cCa++ 3,8 - cCl- 80. Áp suất thẩm thấu nước tiểu
214 mosm/kg. Cortisol máu (8 giờ sáng) 787 nmol/L (193-690 nmol/L). Chức năng
tuyến giáp T3 2,2 ng/mL (0,7-2,1 ng/mL) - T4 2 ng/dL
(0,85-1,85) - TSH 0,4 (U/L (0,4-4,2). Khí máu động mạch pH 7,50 - pCO2
26,4 mmHg - pO2 75,1 mmHg - HCO3 20,3 mEq/L. Chẩn đoán lúc
này là hạ natri máu nặng do tiết ADH không thích hợp (có lẽ do đau kéo dài sau
mổ và dùng nhiều dung dịch không chứa muối).
Mục tiêu
điều trị ban đầu là đưa natri máu lên 8-12 mEq/L trong ngày. Lượng natri cần bù
tính theo công thức:
Cân nặng (45 kg) x tỷ lệ nước (0,4) x 8 = 144 mEq.
Lượng
natri cần bù được chia ra bù một nửa bằng muối ưu trương NS 3% (100 mL) và một
nửa bằng muối đẳng trương NS 0,9% (500 mL).
Sau ngày
điều trị đầu tiên, natri máu lên được 112 mEq/L. Tổng lượng dịch nhập là 2300 mL
(gồm NS 3% 100 mL, NS 0,9% 1000 mL, các dung dịch nuôi dưỡng và cho ăn qua đường
tiêu hóa), nước tiểu 2700 mL. Trong ngày thứ hai của điều trị th́ natri chỉ lên
đến 114 mEq/L rồi dừng lại. Chúng tôi hạn chế nước nhập xuống khoảng 1500
mL/ngày bằng cách giảm NS 0,9% và cho ăn qua đường tiêu hóa. Sau đó tuy thể tích
nước tiểu gần như không thay đổi (2600 mL/ngày) nhưng natri niệu vẫn c̣n rất cao
110 mEq/L và natri máu gần như không tăng thêm được bao nhiêu (115 mEq /L). Tiếp
tục hạn chế nước nhập xuống c̣n 1000-1100 mL/ngày đồng thời dùng thêm furosemid
20-40 mg/ngày. Natri niệu sau đó giảm dần xuống 46 mEq/L và natri máu tăng dần
lên 119 - 121-130 mEq/L. BN trở nên tỉnh táo hơn. Phẫu thuật đoạn chi được tiến
hành sau đó. Tuy nhiên sau mổ BN không tỉnh hẳn được, phải thở qua ống thông khí
quản kéo dài và cuối cùng tử vong trong bệnh cảnh viêm phổi nghi ngờ do ḍ thực
quản khí quản.
Bệnh án 2. BN nữ 45 tuổi nhập viện v́ nôn ói và
lơ mơ. Bệnh khởi phát cách nhập viện 3 ngày với đau thượng vị và nôn ói nhiều.
BV Tây Ninh điều trị với chẩn đoán: Hạ đường máu - Suy kiệt. Dịch truyền đáng
lưu ư có dextrose 30% và dextrose 5%. Tri giác BN ngày một xấu dần và BN được
chuyển lên BV Chợ Rẫy. Tại pḥng cấp cứu bệnh viện Chợ Rẫy, ghi nhận BN lơ mơ,
mê độ I, thỉnh thoảng có cơn gồng cứng. Gầy suy kiệt. Mạch 68 lần/phút, huyết áp
110/70 mmHg. Đường máu thử tại giường 72 mg/dL, thử khẩn ion đồ: cNa+
99 - cK+ 4,0 - cCa++ 4,0 - cCl-
89. Chẩn đoán lúc này là rối loạn điện giải nặng-suy hô hấp và BN được chuyển
lên khoa săn sóc đặc biệt.
Tại săn
sóc đặc biệt, khám thấy BN mở mắt, không tiếp xúc. Véo da dương tính và các dấu
mất nước khác rơ. Mạch 70 lần/phút, huyết áp 120/70 mmHg. Các xét nghiệm được
thực hiện lại gồm: ion đồ cNa+
101 - cK+ 3,4 - cCa++ 4,3 - cCl- 75. Áp suất
thẩm thấu máu 210 mosm/kg. Natri niệu 85 mEq/L và áp suất thẩm thấu nước tiểu là
289 mosm/kg. Khí máu động mạch pH 7,53 - pCO2
44,9 mmHg - pO2 68.5 mmHg - HCO3 31,4 mEq/L. Xét nghiệm
chức năng thận và acid uric máu ở trong giới hạn b́nh thường. Chẩn đoán lúc này
là hạ natri máu nặng do mất natri qua đường tiêu hóa và qua thận.
Lượng
natri cần bù ban đầu tính ra khoảng 240 mEq và toàn bộ lượng natri thiếu này
được bù bằng muối đẳng trương NS 0,9% (khoảng 2 L). Sau ngày điều trị đầu tiên
natri máu chỉ lên đưọc 106 mEq/L, natri niệu vẫn c̣n rất cao 149 mEq/L, cân bằng
nước xuất nhập là 4500/4400 mL. Dựa thêm vào thông số thể tích nước tiểu trong
ngày, lượng dịch truyền NS 0,9% được tăng cường thêm nữa trung b́nh 4000-5000
mL/ngày. Natri máu sau đó tăng dần lên 113-126-135 mEq/L (đồng thời natri niệu
cũng giảm xuống đáng kể, 82 mEq/L ở lần thử sau cùng). BN cuối cùng tỉnh táo
hoàn toàn và ra viện trong t́nh trạng khỏe mạnh.
BÀN LUẬN
-1.
Phương pháp tiếp cận trong chẩn đoán hạ natri máu: Trong máu, natri là chất
ḥa tan chính do đó có thể nói hạ natri máu phản ánh t́nh trạng giảm áp suất
thẩm thấu máu. Chỉ trong một số trường hợp đặc biệt th́ hạ natri máu có thể
không kèm theo giảm áp suất thẩm thấu máu, đáng lưu ư nhất là tăng đường máu và
ngoài ra c̣n có thể kể đến tăng lipid máu hoặc tăng protid máu. Từ nhận định này
dẫn đến việc bước đầu tiên trong tiếp cận BN hạ natri máu của chúng tôi bao giờ
cũng là đo áp suất thẩm thấu máu.(5) Bước tiếp cận này có một ư nghĩa
lâm sàng khá quan trọng, bởi v́ nếu BN bị tăng áp suất thẩm thấu máu th́ các
biện pháp điều trị nên hướng đến việc làm giảm áp suất thẩm thấu máu hơn là tập
trung vào điều chỉnh hạ natri máu.- Cả hai BN trên đều được đo áp suất thẩm thấu
máu và xác định đây là hạ natri máu có giảm áp suất thẩm thấu máu. Tuy nhiên,
trong thực tế việc đo áp suất thẩm thấu máu trực tiếp gần như không thực hiện
được tại rất nhiều pḥng xét nghiệm, cho nên bước đầu tiên khi tiếp cận BN hạ
natri máu nên là đo đường máu.
Hạ natri
máu có giảm áp suất thẩm thấu máu có thể do một trong các cơ chế sinh bệnh sau:
(1) mất natri, (2) ứ nước (hạ natri máu thứ phát) hoặc (3) giảm bài tiết nước tự
do.(4) Đánh giá thể tích dịch ngoại bào có thể giúp xác định cơ chế
gây bệnh từ đó định hướng cho việc t́m kiếm nguyên nhân. Ví dụ, nếu BN bị giảm
thể tích dịch ngoại bào th́ cơ chế gây bệnh có thể là mất natri (mất qua đường
tiêu hóa hoặc thận), trong khi đó nếu BN có thể tích dịch ngoại bào tăng th́ cơ
chế gây bệnh có thể là ứ nước (suy tim, suy thận), c̣n nếu thể tích dịch ngoại
bào b́nh thường th́ cơ chế gây bệnh có thể là giảm bài tiết nước tự do. Do đó
bước thứ hai trong tiếp cận BN hạ natri máu là đánh giá thể tích dịch ngoại bào.
Trong hai BN trên th́ t́nh trạng thể tích dịch ngoại bào có thể đánh giá tương
đối dễ dàng qua các dấu hiệu lâm sàng và đưa đến nhận định BN thứ nhất có thể
tích dịch ngoại bào b́nh thường và BN thứ hai có thể tích dịch ngoại bào giảm.
- Đối với
trường hợp thứ nhất, BN hạ natri máu có thể tích dịch ngoại bào b́nh thường, xác
định có giảm bài tiết nước tự do (giảm khả năng pha loăng nước tiểu) thông qua
đo áp suất thẩm thấu nước tiểu và thấy rằng áp suất thẩm thấu nước tiểu cao hơn
áp suất thẩm thấu máu. V́ không thể trực tiếp đo nồng độ ADH nên chứng minh t́nh
trạng giảm bài tiết nước tự do này là do tăng tiết ADH bằng cách loại trừ suy
thượng thận và suy giáp là những rối loạn nội tiết gây giảm bài tiết nước tự do.(6)
T́nh trạng tăng tiết ADH này xảy ra trên một BN không có giảm thể tích dịch
ngoại bào hoặc tăng áp suất thẩm thấu máu cho nên được xem là tăng tiết ADH
không thích hợp. T́nh trạng tăng ADH sau mổ khá phổ biến mà nguyên nhân có thể
do không được giảm đau đúng mức.(7) Mặc dù có tăng tiết ADH, nhưng BN
hậu phẫu hiếm khi nào bị hạ natri máu trừ khi được cho dùng nhiều dung dịch
không chứa muối,(8) như đối với BN này đă được nuôi dưỡng bằng đường
ưu trương và dùng đường đẳng trương để pha heparin.
- Trong
bệnh án thứ hai, BN hạ natri máu có giảm thể tích dịch ngoại bào, dựa vào bệnh
sử và natri niệu giúp xác định đây là một trường hợp hạ natri máu do nôn ói kéo
dài (có lẽ do viêm dạ dày).(6)
Nôn ói là một trong hai nguyên nhân duy nhất gây mất natri qua cả đường tiêu hóa
và thận.(3) Khí máu động mạch cho thấy có kiềm chuyển hóa do nôn ói
và đây có thể là nguyên nhân gây ra t́nh trạng bài tiết bắt buộc natri và làm
mất natri qua thận. Tuy nhiên, nói chung natri thường mất trong các dịch đẳng
trương. Như vậy, một lần nữa cần thấy rằng BN chỉ bị hạ natri sau khi được bồi
hoàn lại lượng dịch mất bằng một dung dịch không chứa muối,(3) như BN
này đă được truyền dịch ưu trương và đẳng trương v́ chẩn đoán nhầm là hôn mê hạ
đường máu.-
2.
Phương pháp tiếp cận trong điều trị hạ natri máu: Thông qua việc xác định cơ
chế sinh bệnh của hạ natri máu có thể giúp lựa chọn biện pháp điều trị thích hợp
cho từng BN. Trong bệnh án thứ hai là một BN bị mất natri tiên phát gây hạ natri
máu và giảm thể tích dịch ngoại bào, do đó điều trị bằng dung dịch muối đẳng
trương NS 0,9% để vừa cung cấp natri vừa bồi hoàn thể tích dịch ngoại bào. Trong
t́nh trạng mất dịch ngoại bào, bù dịch bằng muối đẳng trương giúp nâng natri máu
lên bằng hai cơ chế.(9) Nồng độ natri trong muối đẳng trương (154
mEq/L) hơi cao hơn nồng độ natri máu trong hạ natri máu, do đó cứ mỗi lít muối
truyền vào sẽ nâng natri máu lên khoảng 1-2 mEq/L. Bên cạnh đó, khi thể tích
ngoại bào bắt đầu được khôi phục th́ kích thích tiết ADH cũng giảm xuống và cho
phép bài tiết bớt nước tự do (thể hiện qua natri niệu giảm từ 149 mEq/L xuống 82
mEq/L).
Trong khi
đó cơ chế sinh bệnh trong trường hợp thứ nhất là giảm bài tiết nước tự do, th́
muối đẳng trương không hiệu quả, thậm chí c̣n có thể làm hạ natri máu nặng thêm,
đặc biệt là khi natri niệu hoặc áp suất thẩm thấu nước tiểu cao hơn natri máu và
áp suất thẩm thấu máu.(2)
Sau hai ngày đầu chia đôi lượng natri cần bù bằng natri ưu trương và natri đẳng
trương, thấy rằng kông thể nâng được natri máu lên. Dựa theo cơ chế sinh bệnh
th́ tiết chế nước là biện pháp điều trị cơ bản trong trường hợp này.(1)
Tuy nhiên sau khi cho giảm lượng nước nhập xuống (khoảng 1500 mL/ngày) th́ natri
niệu vẫn tiếp tục cao và natri máu không tăng đáng kể. Trong trường hợp BN có độ
pha loăng nước tiểu cố định như thế này th́ furosemid có thể giúp tăng thanh
thải nước tự do(9,10) (thể hiện qua natri niệu giảm xuống c̣n 46
mEq/L sau khi dùng furosemid). Ngoài ra, furosemid c̣n được chỉ định trong
trường hợp có suy tim v́ sau khi đưa natri máu về b́nh thường th́ thể tích dịch
ngoại bào sẽ tăng lên đáng kể.(2) Lượng dịch ngoại bào tăng lên sau
khi đưa natri máu lên 140 mEq/L có thể tính theo công thức:
Cân nặng (45 kg)
- tỷ lệ nước (0,4)
- (140/103 - 1) = 6,5 lít.
Ở BN bị
hội chứng tiết ADH không thích hợp, việc dùng natri ưu trương NS 3% để bù natri
là thích hợp hơn,(3) chẳng hạn để bồi hoàn lại 110 mEq natri mất
trong 1 lít nước tiểu, chỉ cần dùng 215 mL NS 3% (với nồng độ NS 3% = 513
mEq/L), như vậy đă giúp BN thải bớt 785 mL nước tự do.
Mặc dù
natri là một ion ngoại bào, nhưng công thức bù natri cần phải tính đến thể tích
nước toàn thể (cân nặng x tỷ lệ nước) v́ hạ natri máu thực chất là một rối loạn
cân bằng nước. Trong trường hợp này, ví dụ như trước khi bệnh BN nặng 38,5 kg,
có natri máu 140 mEq/L tương ứng với áp suất thẩm thấu máu là 290 mosm/kg. Lúc
này thể tích nước toàn cơ thể là 11,5 lít gồm 7,7 lít dịch nội bào và 3,8 lít
dịch ngoại bào. Khi được nhập thêm 6,5 lít nước tự do vào dịch ngoại bào (qua
tiêm truyền hay ăn uống) th́ BN cân nặng 45 kg. Tuy nhiên, lượng nước tự do này
không chỉ nằm trong dịch ngoại bào, mà nước là một chất khuyếch tán tự do sẽ đi
qua màng tế bào để cân bằng áp suất thẩm thấu dịch ngoại bào và dịch nội bào.
Lúc này, thể tích nước toàn cơ thể là 18 lít sẽ phân bố 12 lít trong dịch nội
bào và 6 lít trong dịch ngoại bào, nghĩa là chỉ có 2,2 lít nước ở lại dịch ngoại
bào c̣n 4,3 lít nước sẽ đi vào dịch nội bào, áp suất thẩm thấu lúc này ví dụ là
210 mosm/kg.
Nếu công
thức bù natri chỉ tính đến thể tích dịch ngoại bào th́ lượng natri cần bù chỉ
là: 6
- (140-103) = 222 mEq. Lượng natri này
khi cho vào dịch ngoại bào ban đầu sẽ làm tăng áp suất dịch ngoại bào lên 290
mosm/kg, sau đó sự chênh lệch áp suất thẩm thấu giữa dịch ngoại bào và dịch nội
bào sẽ kéo nước từ nội bào ra. Sau khi đă cân bằng áp suất thẩm thấu ở mức 235
mosm/kg th́ natri máu chỉ c̣n 116 mEq/L chứ không phải 140 mEq/L như lúc đầu.
Chỉ có thể đưa natri máu về b́nh thường khi đồng thời đưa được áp suất thẩm thấu
về b́nh thường và như vậy trong công thức bù natri phải tính đến thể tích nước
toàn cơ thể, ví dụ trong trường hợp này th́ lượng natri thiếu = 18
- (140-103) = 781 mEq.--
KẾT LUẬN
Qua hai
trường hợp này, nhận thấy rằng hạ natri máu không phải là một rối loạn cân bằng
natri mà thực chất là một rối loạn cân bằng nước. Tiếp cận chẩn đoán từng bước
dựa theo cơ chế sinh bệnh giúp định hướng cho việc t́m kiếm nguyên nhân gây hạ
natri máu đồng thời cũng giúp cho lựa chọn biện pháp điều trị thích hợp.
Trân
trọng cảm ơn BS.Nguyễn Quang Trung và BS.Phan Thị Xuân đă trực tiếp điều trị BN
và cung cấp số liệu cho bài viết này.
TÀI LIỆU THAM KHẢO.
1. Martinez FJ, Lash RW. Endocrinologic and metabolic
complications in the intensive care unit. Clin Chest Med 1999; 20: 401.
2. Fried LF, Palevski PM. Hyponatremia and
hypernatremia. Med Clin North Am 1997; 81:585.
3. Sterns RH, Ocdol H, Schrier RW. Hyponatremia:
pathophysiology, diagnosis, and therapy. In:- Clinical disorders of fluid and
electrolyte metabolism 1994 (5th). McGraw-Hill. Chap 20: 583.
4. Rose BD. Hypoosmolal states-Hyponatremia. In:
Clinical physiology of acid-base and electrolyte disorders 1994 (4 ed).
McGraw-Hill. Chap 23: 651.
5. Rose BD. Introduction to disorders of osmolality.
In: Clinical physiology of acid-base and electrolyte disorders 1994 (4 ed).
McGraw-Hill. Chap 22: 638.
6. Singer GG. Fluid and electrolyte management. In:
The Washington manual of medical therapeutics 1998 (29th). Little Brown and
Company. Chap 3: 39-60.
7. Chung HM, Kluge R, Schrier RW, Anderson RJ.
Postoperative hyponatremia: a prospective study.Arch Intern Med 1986; 146: 333.
8. Ayus CJ, Arieff AI. Brain damage and postoperative
hyponatremia: The role of gender. Neurology 1996; 46: 323.
9. Black RM. Disorders of plasma sodium and plasma
potassium. In: Intensive care medicine 1996 (1st). Little Brown and Company.
Chap 79: 950.
10. Lauriat SM,- Berl T. The hyponatremic patient:
practical focus on therapy. J Am Soc Nephro 1997; 8: 1599.