PHẦN MỞ ĐẦU:
Ápxe gan do amíp (AXGDAM) là
một bệnh khá phổ biến tại nước ta, nhất là vùng đồng bằng sông Cửu Long. Bệnh
thường mắc ở người lớn, nam nhiều hơn nữ.(1)
AXGDAM ở nhũ nhi hiếm gặp, tuy đă có nhiều báo cáo về bệnh này trong y văn.(2-9)
Tại bệnh viện Châu Đốc, tỉnh An Giang, ghi nhận một trường hợp AXGDAM ở một bé
gái 7 tháng tuổi đầu tiên.
BỆNH ÁN:
Phạm thùy L., 07 tháng tuổi,
nhà ở tổ 3, xă Xuân Tô, huyện Tịnh Biên, trong một gia đ́nh gồm 4 người, gồm cha
mẹ và 2 con. Người anh lớn được 4 tuổi. Nhà rất nghèo, thu nhập b́nh quân khoảng
300.000 đồng/tháng. Nhà ở gần kênh, sử dụng nước kênh để sinh hoạt (nấu ăn, nước
uống, tắm rửa.), dùng cầu tiêu chung trên kênh.
Tiền sử gia đ́nh: Con rạ. Cân nặng lúc sanh 2.900g. Bé vừa bú sữa mẹ
và sữa b́nh (Dielac), đến khi bé được 6 ngày ngưng sữa b́nh đổi sang ăn bột nhi
đồng tới khi 6 tháng tuổi rồi ăn cháo, cơm.
Bệnh sử: Bé nóng ho sổ mũi đă 2 ngày, uống thuốc tây không rơ
loại. Đến 18 giờ ngày thứ 2, bé đi cầu có đàm lẫn ít máu 2 lần/ngày, bé khóc mỗi
khi đi cầu và ḷi hậu môn (tự rút được). Đổi sang uống thuốc nam, mới uống nửa
thang bé hết đi cầu, bú và ăn uống b́nh thường. Đến ngày thứ 5, bụng bé to dần
và ngày càng tăng, mệt, khó thở, khóc, bứt rứt, la hét nhập BV huyện Tịnh Biên
điều trị 24 giờ rồi chuyển đến BV Châu Đốc với chẩn đoán: Nhiễm trùng huyết và
thiếu máu nặng.
T́nh trạng khi nhập BV Châu
Đốc: Nhiệt độ 38oC. Nhịp thở 54 lần/phút. Cân nặng 6 kg. Bé tỉnh, bứt
rứt, khóc, phù mắt và hạ chi, thở không co lơm lồng ngực, thiếu máu. Tim phổi
không phát hiện bệnh lư. Gan rất to, bờ dưới gan ngang rốn. Lách không sờ thấy.
Xét nghiệm máu: Hồng cầu:- 3.200.000/mm3, bạch cầu: 39.900/mm3,
bạch cầu đa nhân trung tính: 75,20%, lymphô: 24,80%, dung tích hồng cầu: 20,20%.
Siêu âm gan: Hai ổ áp-xe ở phân thùy 5 (36x30 mm) và 6 (57x53 mm). Huyết thanh
chẩn đoán amíp (+) với tỷ lệ pha loăng 1/120, a-míp trong phân (-). Tốc độ lắng
máu: giờ thứ nhất 40mm, giờ thứ hai 80mm, SGOT: 78 u/L, SGPT: 49 u/L. X-quang:
Bóng mờ dưới cơ hoành phải có chiều cao 10-11cm. Bóng cơ hoành phải và trái có
độ chênh lệch 2cm
Chẩn đoán: AXGDAM ở trẻ 7 tháng tuổi.
Điều trị: Trong 10 ngày đầu được dehydroeme-tin 1mg/kg/24giờ,
metronidazol 30mg/kg/24giờ, sinh tố, chế độ dinh dưỡng. Sau 10 ngày ngưng
dehydroemetin, tăng liều metronidazol 50mg/kg /24 giờ.
Theo dơi diễn tiến bệnh:
Ngày thứ 5, bệnh nhi c̣n sốt, gan to, ăn uống được. Truyền máu. Siêu âm gan: gan
phải có 2 ổ hỗn hợp, có giới hạn rơ đă tụ mủ (đường kính 2 ổ: 66mm và 136mm).
Ngày thứ 10, sốt giảm, gan c̣n lớn, ăn uống được, đ̣i bú, hết phù. Siêu âm gan:
gan phải có 2 ổ hỗn hợp,đă tụ mủ rơ, vách dầy (đường kính 2 ổ: 36mm, 64mm). Cả 2
lần siêu âm đều không thấy có tràn dịch màng phổi phải. Ngày thứ 13, bệnh nhi
hết sốt, bú sữa nhiều. Ngưng dehydroemetine, tiếp tục dùng metronidazol nhưng
tăng liều. Bệnh nhi ra viện sau 13 ngày điều trị (05.08.99). Khoảng 10 ngày sau
(13.08.99) bệnh nhi đến tái khám. Siêu âm gan: Ổ áp-xe có vách dầy, có cấu trúc
nhu mô gan. Ngày 04.09.99: Siêu âm gan: gan phải c̣n hai ổ đă ổn định (đường
kính 36mm và 64mm).
BÀN LUẬN
AXGDAM tuy thường gặp ở nước
ta, nhất là vùng đồng bằng sông Cửu Long,(1)-nhưng lại là một bệnh hiếm gặp ở nhũ nhi. Trong y văn đă có vài báo cáo
từng trường hợp về AXGDAM ở nhũ nhi, nhiều nhất là ở Châu Mỹ la tinh,(2,3)
ngay cả ở Mỹ cũng có báo cáo một trường hợp.(4) Châu Phi cũng có một
trường hợp sơ sinh và bốn trường hợp 2-8 tháng tuổi.(2,6,7) Ở Châu Á,
có một trường hợp được báo cáo tại Pakistan ở em bé 3 tuần tuổi,(8)
Thái Lan ở một em bé 21 tháng tuổi.(9) Riêng ở Việt Nam, chúng tôi
chưa thấy một báo cáo nào về AXGDAM ở nhũ nhi.
Bệnh án trên đây có thể là
trường hợp được chẩn đoán là AXGDAM đầu tiên tại Việt Nam, cũng như vùng đồng
bằng sông Cửu Long.
Về phái tính, bệnh AXGDAM
thường xảy ra ở nam giới.(1,7) Riêng ở trẻ em, bệnh xảy ra không phân
biệt phái tính.(2,7)
Nhờ có siêu âm, hiện nay có
thể chẩn đoán dễ dàng AXGDAM. Trong trường hợp này, ngoài thuốc đặc trị amíp,
chúng tôi có tiến hành chọc hút mủ v́ có nhiều ổ ápxe lớn, điều này phù hợp với
nhiều tác giả.(1,7)-
Vấn đề vệ sinh môi trường, ăn
chín uống chín, nâng cao đời sống người dân, luôn là vấn đề chính trong việc
pḥng chống bệnh này nói riêng và các bệnh đường ruột nói chung.
TÓM TẮT
Bé gái 7 tháng tuổi, sống
trong vùng có yếu tố dịch tễ học nhiễm amíp, t́nh trạng suy dinh dưỡng độ B, có
tiền sử tiêu đàm máu. Bé trong t́nh trạng nhiễm khuẩn, thiếu máu, gan to, đau.
Cận lâm sàng: bạch cầu tăng, hồng cầu giảm, tốc độ lắng máu tăng. Siêu âm thấy 2
ổ áp-xe ở phân thùy 5 và 6. X-quang: bóng cơ hoành phải chênh cao hơn bên trái
hơn 2 cm. Mac-ELISA amíp (+). Chẩn đoán: AXGDAM ở trẻ 7 tháng tuổi.
summary
a case of 7-month-old child with amoebic liver abscess
(ALA) is reported. The disease was diagnosed by ultrasound and serology. ALA is
common problem in Cuu Long delta, where the people used unboiled water as a
habit. but it is rarely in infancy. A combination of amoebicides and pus
aspiration was recommended in this case.
Tài liỆu tham khẢo
(1)- Hội thảo Ngoại khoa
Cần thơ-Hậu giang, ngày 6-7-8 tháng 6 năm 1991, Áp-xe gan A-míp và Sỏi đường
mật.
(2) Porras-Ramirez G,
Hernandez-Herrera MH, Porras-Hernandez JD. Amebic hepatic abscess in children. J
Pediatr Surg 1995 May;30(5):662-4
(3) Larracilla-Alegre J,
Teran-Ramirez F, Villa Michel-Davila M, Manzano-Sierra C. Hepatic amebiasis at
23 days of age. Gac Med Mex 1978 Jun;114(6):299-302
(4) Johnson JL, Baird JS,
Hulbert TV, Opas LM. Amebic liver abscess in infancy: case report and review.
Clin Infect Dis 1994 Oct;19(4):765-7
(5) Bachy A, Kuss JJ,
Rezgallah A. Hepatic amebiasis in an infant. Arch Fr Pediatr 1975
Jun-Jul;32(6):569-74
(6) Axton JH. Amoebic
proctocolitis and liver abscess in a neonate. S Afr Med J 1972 Mar
4;46(10):258-9
(7) Kapoor OP. Ameobic
liver abscess. http://www.bhj.org/books /liver/s5c02.htm.
(8) Moazam F, Nazir Z.
Amebic liver abscess: spare the knife but save the child. J Pediatr Surg 1998
Jan;33(1):119-22.-
(9) Mc Carty E, Pathmanand
C, Sunakorn P, Scherz RG. Amebic liver abscess in childhood. A case study of a
21-month-old Thai child and a literature review. Am J Dis Child 1973
Jul;126(1):67-70