Đất nước Việt Nam trải qua 30
năm chiến tranh đă bị tàn phá nặng nề về mặt kinh tế và xă hội. Sau ngày giải
phóng đất nước và thống nhất Tổ quốc (1975), mặc dù chúng ta phải đi lên từ một
nước nông nghiệp lạc hậu, cơ sở hạ tầng và hệ thống công nghiệp c̣n nhỏ bé, khả
năng đầu tư của nhà nước c̣n nhiều hạn chế trong việc hồi phục kinh tế và giải
quyết các yêu cầu bức xúc của đời sống nhân dân, trong đó có việc nâng cao và
bảo vệ sức khoẻ ngành y tế cũng như mọi ngành khác đều nổ lực phấn đấu, phát huy
tốt các thuận lợi của ḿnh để xây dựng lại cơ sở hạ tầng về điều trị và pḥng
bệnh, sản xuất và lưu thông thuốc men để nâng cao và bảo vệ sức- khoẻ cho nhân
dân. Mạng lưới y tế nhân dân đă được xây dựng và phát triển dần đều khắp ở các
thành thị và nông thôn, cơ sở sản xuất và lưu thông dược phẩm cũng đă được cũng
cố dần nhất là trong 10 năm đổi mới, ngành y tế trong đó có hệ thống dược đă đạt
được nhiều thành tích khích lệ, được sự tín nhiệm của nhân dân và có uy tín đối
với các nước trong khu vực.
- Về cơ sở điều trị và pḥng
bệnh ngành y tế có gần 13.000 cơ sở với 200.000 giường bệnh từ thành phố, thị xă
đến xă phường.
- Về cơ sở dược đă có 106 xí
nghiệp sản xuất dược phẩm rải rác trên 61 tỉnh trong đó có 7 xí nghiệp bào chế
thuốc theo y học cổ truyền; doanh thu theo số liệu năm 1996 là 11 tỷ.
- Về đào tạo cán bộ hiện có
11 cơ sở đào tạo đại học và sau đại học trực thuộc Bộ Y Tế và 4 cơ sở thuộc Bộ
GDĐT, 70 cơ sở đào tạo cán bộ y tế cao đẳng và trung học. Tỷ lệ bác sĩ cho
10.000 dân mới đạt 4,20. Dược sĩ đại học 10.000 dân mới đạt 0,7 nếu cộng thêm
dược sĩ trung học là 1,60.
Tuy nhiên một vấn đề lớn đang
đặt ra trước mắt là bước vào thế kỷ 21, trong t́nh h́nh thực tế của đất nước mặc
dù đă đạt được nhiều thành tích đáng kể nhưng đi sâu vào từng lănh vực th́ công
nghệ c̣n nhiều sút kém so với các nước khu vực chung quanh, đầu tư của ta c̣n ít
do khả năng thực tế của đất nước, công tác qui hoạch, tổ chức và quản lư của ta
c̣n nhiều vấn đề bất cập làm trở ngại không ít cho sự phát triển kinh tế và xă
hội. Trong bối cảnh quốc tế hiện nay và của khu vực, các nước chung quanh ta nhờ
sự tiến bộ chung của khoa học và công nghệ nên chỉ mất- một thời gian từ 10 -15
năm để công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước (điển h́nh là Hàn Quốc, Trung
Quốc).
Đối với ngành Dược phải được
phát triển và nâng cao để đạt được tŕnh độ hiện đại, đạt được mục tiêu chung và
mục tiêu cụ thể để ḥa nhập với chiến lược Công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất
nước do Đảng đề ra từ nay đến năm 2020. Điều cần nhận thức sớm và rơ ràng hơn là
cuộc công nghiệp hóa và hiện đại hóa ngày càng khác hẳn với cuộc cách mạng khoa
học kỹ thuật trong quá khứ và từ đó chiến lược và sách lược của ngành cũng phải
phù hợp để ḥa hợp chung cùng xu thế phát triển khoa học của khu vực.
Hiện nay, cuộc cách mạng
về khoa học và công nghệ mang những tính chất mới sau đây:
1. Xu thế kinh tế xă hội là
hợp tác quốc tế, liên kết song phương, đa phương hay Châu Lục (khối Asean, khối
Nam Mỹ, khối Bắc Mỹ, khối Tây Âu.) tạo điều kiện thuận lợi cho việc giao lưu
buôn bán đầu tư mở rộng thị trường, chuyển giao công nghệ. Nhưng việc hợp tác
cũng đặt ra nhiều thách thức mới, các khó khăn mới như: sự cạnh tranh trên thị
trường rất quyết liệt và gay gắt, sự non kém của ta về tŕnh độ hợp tác đầu tư
quản lư qui mô lớn, sự lấn áp kinh tế của các nước mạnh.
2. Là một ngành kinh tế kỹ
thuật, ngành Dược phải được đầu tư đúng mức nâng cao trang thiết bị đạt tŕnh độ
hiện đại (theo tư liệu Bộ Y Tế, tŕnh độ công nghệ được hiện đại chỉ đạt 0,6%),
phải có tŕnh độ để tiếp thu các công nghệ sinh học, các kỹ thuật hiện đại và
sinh học phân tử, miễn dịch học. Để tạo ra các dược phẩm có giá trị cao, giá
thành rẻ th́ mới bảo đảm được sự đứng vũng trong cạnh tranh. Yếu tố chất lượng
và kinh tế của dược phẩm là then chốt để bảo đảm cho ngành dược tồn tại và phát
triển trong tương lai.
3. Về mặt tổ chức: Do lịch sử
để lại, tổ chức các xí nghiệp dược phẩm của ta quá phân tán. Sự phân tán này là
nguồn gốc của bế tắc trong đầu tư. Nếu tập trung, Nhà nước chỉ đầu tư vài xí
nghiệp trong toàn quốc (thay v́ mấy chục Xí nghiệp hiện nay). Một vấn đề nữa là
bế tắc trong phân công sản phẩm, với một dược chất mỗi xí nghiệp tại thành phố
sản xuất ra một biệt dược, và mỗi tỉnh một biệt dược th́ làm sao có được một
biệt dược có chất lượng tốt). Bế tắc trong việc hoàn chỉnh GMP v́ quá tải, bế
tắc trong việc sử dụng hết công sức máy móc.
Đây là một căn bệnh trầm kha
mà nếu không tích cực và kiên quyết chữa trị th́ ngành dược không mong ǵ tồn
tại và cạnh tranh được với nước ngoài.
4. Trong giao lưu buôn bán
với các nước ngoài, không thể đóng cửa với thuốc ngoại hay dùng biện pháp thuế
quan bất thường để hạn chế (các nước sẽ có cơ hội trả đũa lại mạnh hơn). Như vậy
để thu hút khách hàng, chất lượng thuốc của ta phải được nâng cao hơn về mặt
hiệu lực và an toàn, nhất là giá rẻ hơn cả th́ mới bảo đảm cạnh tranh nổi.
Việc đầu tư đầu đúng mức cho
nghiên cứu và triển khai sản xuất dược phẩm (R và D), việc tập hợp một đội ngũ
cán bộ nghiên cứu có đủ bản lĩnh và tay nghề chuyên môn trong một tổ chức nghiên
cứu là điều kiện quyết định cho sự thành công. Sản phẩm được giảm chi phí, giá
thị trường giảm, chất lượng tốt và phục vụ sát với yêu cầu và mô h́nh bệnh tật
của đất nước trong từng mùa là yếu tố quyết định cho sản xuất và kinh doanh
thuốc.
Nhận thức cơ bản về chiến
lược chung của ngành dược trong công cuộc công nghiệp hóa và hiện đại hóa là
xuất phát từ sự thay đổi trong bản chất các tính chất của một thời kỳ mà khoa
học phát triển nhanh đa dạng và phong phú. Bài toán đặt ra của ngày nay khác hẳn
với cuộc cách mạng khoa học trong quá khứ, nguồn vốn của con người không phải là
sức lao động mà là trí thức lao động, kỹ năng lao động đóng vai tṛ trung
tâm cho sự phát triển. Đây là một cuộc cách mạng đ̣i hỏi con người với trí thức
lao động cao, một kỹ năng lao động tốt th́ mới mong tạo ra những sản phẩm tốt.
Với đầu tư trí tuệ cao và giảm được công sức lao động chân tay, nên sản phẩm có
giá thành rẻ và đáp ứng sự cạnh tranh trên thị trường. Điều hiển nhiên là muốn
có trí thức lao động cao th́ phải cải cách công tác đào tạo từ trung học, đại
học và sau đại học. Hội nghị Ban Chấp hành Trung Ương Đảng khóa 2 cũng đă nêu "Giáo
dục đào tạo khoa học, công nghệ là quốc sách hàng đầu". Để đào tạo tốt, cần
phải có khoa học cơ bản, có lư luận gắn với thực tế ngành nghề, có thực tập
ngành nghề một cách chu đáo và thực tiễn. Nh́n lại chương tŕnh đào tạo đại học
và trên đại học, ta cần phải rà soát lại cơ sở thực tập cho sinh viên (bệnh
viện). Hiệu thuốc, cơ sở thực tập cho nghiên cứu sinh cao học (các viện) có mang
lại hiệu quả thiết thực như thế nào để chấn chỉnh đầu tư nhằm nâng cao trí thức
lao động và kỹ năng lao động cho cán bộ được đào tạo; nếu không kiên tŕ chỉnh
đốn, th́ dù chúng ta có nhiều cố gắng, hiệu quả thực tế sẽ không cao và dẫm chân
tại chỗ nếu thỏa măn với cái đă có.
Trong rèn luyện kỹ năng lao
động, nâng cao trí thức lao động, các cơ sở thực hành như khoa dược bệnh viện,
hiệu thuốc, công ty dược phẩm, labo các viện cần nhận thức rơ vai tṛ của ḿnh
trong việc góp sức đào tạo cán bộ có chuyên môn cao. Kết hợp Trường, Viện, Xí
nghiệp, Công ty ở các nước phát triển đă được thực hiện từ lâu và đă trở thành
nề nếp nên đào tạo mang lại nhiều hiệu quả thiết thực. Ngoài ra phải có chỉ đạo
tập trung, có chế độ chính sách cho việc kết hợp Trường Viện và Công ty Xí
nghiệp.
Trên đây là những ư kiến đóng
góp về hướng công nghiệp hóa và hiện đại hóa ngành dược, bài viết này không thể
góp ư sâu hơn nữa vào chương tŕnh cao học, vào tổ chức Khoa Dược bệnh viện như
thế nào để đạt được hiệu quả rèn luyện kỹ năng lao động và nâng cao trí thức lao
động. Đây là một vần đề rất bao quát, khó khăn cần phải được nghiên cứu kỹ
lưỡng, thu thập ư kiến, đề ra chủ trương và chỉ đạo thông suốt từ cấp vĩ mô mới
mong thực hiện được có hiệu quả.-