|
NhỮng cỘt
mỐc y hỌc trong thiên niên kỶ qua
Ÿ Giải phẫu sinh lư
1543: Andreas Versalius ấn
hành công tŕnh De Humanis corporis fabrica libri septem (Bảy cuốn sách
về cấu trúc cơ thể người).
1628: William Harvey công bố
cuốn sách Exercitatio anatomica de motu cordis et sanguinis in animalibus
(Về chuyển động của tim và máu trên động vật).
1733: Stephen Hales lần đầu
tiên đo được huyết áp ở loài ngựa.
Ÿ Tế bào và mô học
Antony van Leeuwenhoek
(1632-1723) nh́n thấy những sinh vật bé li ti bằng kính hiển vi tự tạo
của ḿnh.
Robert Hook (1635-1702) mô tả
tế bào cây bần nh́n qua kính hiển vi.
1935: Ernst Ruska làm chiếc
kính hiển vi điện tử đầu tiên (độ phóng đại 400 lần)
Ÿ Sinh hóa
1659: Thomas Willis đưa ra
khái niệm "Bệnh tật gieo rắc tác hại của nó nhờ sức mạnh của một số men".
1860: Định luật Avogadro
(công bố năm 1811) được công nhận là cơ sở tính toán trọng lượng nguyên tử và
xác định cấu trúc phân tử hóa học.
Hans Krebs (1900-1981) phát
hiện chu tŕnh acid citric.
Ÿ Áp dụng thống kê trong y học
Pierre de Fermat (1601-1665)
và Blaise Pascal (1623-1662) đưa ra các công thức tính xác suất trong các tṛ
chơi may rủi.
John Graunt (1620-1674) giới
thiệu khái niệm suy diễn thống kê và mô tả cách tính thời gian sống thêm trung
b́nh, mở màn cho sự ra đời các công ty bảo hiểm nhân thọ.
1747: Nghiên cứu lâm sàng đầu
tiên trên thế giới: James Link dùng thức uống có nước quả họ cam (chanh, cam,
quít) điều trị thành công cho 12 hành khách đi tàu thủy bị bệnh scorbut.
1794: Karl Friederich Gauss
(1777-1855) đề xuất phương pháp phân tích b́nh phương tối thiểu, dẫn đến sự ra
đời lư thuyết phân tích hồi qui hiện đại.
1854: John Snow khai sinh
dịch tễ học hiện đại, chứng minh sự lây truyền dịch tả là do nước bị nhiễm bẩn
bằng cách mô tả tỉ lệ bệnh trong cư dân sống ở Luân đôn được cung cấp nước từ
một giếng bơm bị ô nhiễm. Ông đă dập tắt dịch bằng cách tháo cần bơm ở giếng
nước.
Sir Ronald Fisher
(1890-1962): phát triển phương pháp phân tích phương sai và hồi qui đa biến; ông
cũng là người đề ra nguyên tắc ngẫu nhiên hóa để tránh sai số trong nghiên cứu
thực nghiệm.
1972: Sir David Cox đề xuất
phương pháp hồi qui ngẫu nhiên tỉ lệ, đặt nền tảng cho lĩnh vực phân tích thời
gian sống thêm và suy diễn bán tham số.
Ÿ Gây mê
1799: Sir Humphrey Davy khám
phá tính chất giảm đau của khí gây cười (nitrous oxide), và chất này được
dùng gây mê lần đầu cho 15 bệnh nhân vào năm 1844.
1846: William Morton dùng
ether gây mê để John Collins Warren mổ lấy một khối u ở xương hàm dưới.
1847: James Young Simpson
dùng chloroform gây vô cảm cho sản phụ trong khi sinh.
1942: Harold Griffith dùng
thuốc giăn cơ trong gây mê để phẫu thuật.
Ÿ Vi khuẩn học và thuốc kháng sinh
Louis Pasteur (1822-1895):
cha đẻ của vi sinh học, của phương pháp lên men và là người đầu tiên dùng cách
chủng ngừa để chữa bệnh than, pḥng bệnh dại.
Robert Koch (1843-1910): phát
minh kỹ thuật cấy vi khuẩn trên môi trường rắn, nhuộm vi khuẩn và tiệt trùng
bằng sức nóng khô; ông cũng là người đầu tiên phân lập được vi khuẩn (Bacillus
anthracis), và t́m được phẩy khuẩn tả (Vibrio cholera), trực khuẩn
lao (Mycobacterium tuberculosis). Định đề Koch được dùng để phân biệt tác
nhân gây bệnh với tác nhân không gây bệnh.
Baron Josept Lister
(1827-1912) áp dụng nguyên tắc vô khuẩn trong ngoại khoa.
Paul Ehrlich (1854-1915) cho
rằng một số hóa chất có khả năng tấn công vi khuẩn mà không làm hại tế bào kư
chủ, mở đầu cho hóa trị liệu. Năm 1910, ông t́m ra salvarsan để chữa giang mai.
1928: Alexander Flemming t́m
ra penicillin, nhưng chính thức được sử dụng trên lâm sàng từ năm 1942.-
1935: Gerhard Domagk nhận
thấy phẩm màu đỏ Prontosil (chứa sulfanilamide) có tác dụng điều trị nhiễm liên
cầu khuẩn.
Selman Waksman (1888-1973) là
ngơi t́m ra streptomycin, một kháng sinh quan trọng thứ hai sau penicillin, và
là kháng sinh trị lao đầu tiên.
Ÿ Di truyền học
1858: thuyết tiến hóa của
Charles Darwin là cột mốc của sự phát triển di truyền học hiện đại, giới thiệu
khái niệm di truyền và biến dị trong sinh học.
1865: Gregor Mendel công bố
những bài viết về tính chất lai của các hạt đậu, nhưng đến 1902 mới được tổng
hợp trong một cuốn sách của William Bateson: Nguyên lư Mendel về di truyền.
1875: Walther Flemming khám
phá ra nhiễm sắc thể.
1943: Thomas Avery và cs
chứng minh được sự di truyền các tính trạng là do DNA chứ không phải do protein.
1982: Insulin được sản xuất
bằng công nghệ di truyền và bán trên thị trường.
1986: sản xuất được vắc-xin
viêm gan B bằng công nghệ di truyền.
Ÿ Miễn dịch và vắc-xin
1890: miễn dịch học chính
thức ra đời với việc Emil Behring và Kitasato Shibasaburo t́m ra các kháng thể
và sản xuất được kháng độc tố bạch hầu. Đồng thời, Elie Metchnikoff phát hiện ra
đại thực bào và đề ra lư thuyết miễn dịch tế bào.
Trong những năm 1950, vai tṛ
của các tế bào miễn dịch được chú ư, đă khám phá được các ḍng tế bào lymphô
khác nhau về mặt di truyền. Cơ chế đáp ứng miễn dịch được hiểu rơ hơn, đặt cơ sở
cho liệu pháp miễn dịch. Cùng thời gian này, nhiều vắc-xin pḥng bệnh được t́m
ra: vắc-xin sởi (John Enders), bại liệt (Albert Sabin và Jonas Salk), nhưng
thành công nhất là vắc-xin pḥng bệnh đậu mùa.
BS Nguyễn Triển lược dịch theo N Engl J Med 2000,342:1
ThẬp niên xương và khỚp,
2000 - 2010
Vào năm 1990, tổng thống Mỹ
George Bush kư tuyên ngôn chỉ định những năm 1990-2000 là Thập niên của năo
bộ, đó là thời gian tập trung chú ư vào những người có những rối loạn thần
kinh như đột quỵ hoặc mắc bệnh Alzheimer. Nhiều nước Châu Âu đă đáp ứng tuyên
ngôn này và nhiều nghiên cứu được tài trợ, kết quả là có gần 5000 công tŕnh
khoa học được công bố trong thập niên này. Ngoài ra tại các trường đại học đă có
nhiều tài trợ cho khoa thần kinh kể cả nhiều cơ sở mới được thành lập.
Phấn kích trước việc xây dựng
khoa thần kinh trong trường, Giáo sư tiến sĩ bác sĩ Lars Lidgren, trưởng khoa
Phẫu thuật Chỉnh h́nh, trường đại học Lund ở Thụy Điển và Chủ tịch Hội Nghiên
cứu Chỉnh h́nh Châu Âu đề xướng thập niên 2000-2010 là Thập Niên Xương và
Khớp (The Bone and Joint Decade).
Với sự ủng hộ của Hội đồng Nghiên cứu Y học Thủy Điển, trường đại học Lund
và sự tài trợ của Tổ chức Y tế Thế giới, một cuộc hội thảo lớn về vấn đề này đă
được tổ chức vào tháng tư năm 1998 với sự tham dự của hơn 70 đại biểu đại diện
cho 50 tổ chức nghề nghiệp và bệnh nhân cũng như các tạp chí khoa học có liên
quan đến phẫu thuật chỉnh h́nh, thấp khớp học, loăng xương, chấn thương học, y
học thể lực và phục hồi chức năng. Sau khi thảo luận về tầm quan trọng và ảnh
hưởng của vấn đề, các đại biểu nhất trí phát động Thập Niên Xương và Khớp,
2000-2010.
Những bệnh về cơ xương là
những nguyên nhân thường gặp nhất gây đau đớn kéo dài và tàn tật cho cơ thể đă
ảnh hưởng đến hàng trăm triệu người trên thế giới. Hầu hết t́nh trạng này không
gây tử vong, nên đă không gây chú ư đến các chánh sách y tế, phương tiện truyền
thông và công chúng bằng bệnh tim mạch, ung thư và AIDS. Tuy nhiên, bệnh cơ
xương lại là vấn đề nội khoa thường gặp nhất, nó làm giảm sức khoẻ và giảm chất
lượng cuộc sống của đại bộ phận dân số thế giới. Hơn nữa dân số thế giới ngày
càng già đi, vấn đề cơ xương càng quan trọng. Trong 10 năm nữa, dân số cghâu Âu
và Bắc Mỹ sẽ trên 60 tuổi nhiều hơn dân số dưới 20 tuổi. Đến năm 2020, người lớn
tuối sẽ chiếm 25% dân số ở các nước phát triển. Hai vấn đề cần nhấn mạnh nữa là:
(1) bênh khớp, đặc biệt là viêm khớp xương (osteoarthritis)chiếm phân nửa bệnh
mạn tính ở những người - 65 tuổi và (2) số xương găy có liên quan đến loăng
xương tăng gần gấp đôi trong thập niên vừa qua (người ta ước lượng khoảng 40%
phụ nữ -50 tuổi sẽ chịu găy xương do loăng xương).
Những vấn đề cơ xương khác
nổi bật ở người trẻ như viêm tủy và các bệnh nhiễm trùng gây tàn tật trẻ em, vẹo
và biến dạng cột sống phải chịu phẫu thuật lớn, đau lưng phải nghỉ lao động. Các
hoạt động thể dục thể thao phát triển khiến người ta phải nghiên cứu pḥng ngừa
và điều trị những chấn thương liên quan.
Gia tăng sử dụng xe gắn máy
tại các nước đang phát triển dẫn đến nhiều chấn thương liên quan tai nạn giao
thông. Hiên nay ở những nước này phải tốn nhiều tiền của cho chăm sóc y tế và
mất khả năng lao động có liên quan đến tai nạn giao thông. Theo đánh giá của
trường đại học Y tế công cộng Harvard, nếu t́nh trạng này không đảo ngược th́
trong 10 năm tới sẽ có 6 triệu người chết và 60 triệu người bị chấn thương nặng
hoặc tàn tật do tai nạn giao thông
Từ khi có hội nghị trên, đă
có 310 tổ chức nghề nghiệp và bệnh nhân của nhiều nước tán thành đề xuất Thập
Niên Xương và Khớp. Mục đích của chiến dịch này nhằm cải thiện sức khỏe - chất
lượng cuộc sống của những người có rối loạn cơ xương bằng cách: (1)- tăng cường
sự hiểu biết về gánh nặng đang gia tăng của bệnh cơ xương lên xă hội, (2) trao
quyền cho bệnh nhân được tham gia các quyết định có liên quan đến chăm sóc sức
khỏe họ, (3) khuyến khích sử dụng các phương pháp ngăn ngừa và điều trị có hiệu
quả kinh tế và (4) tăng cường hiểu biết về bệnh cơ xương bằng cách nghiên cứu
cải tiến những phương pháp hiện có.
Thông tin về thập niên xương
và khớp đă lan rộng đến nhiều quốc gia trên các châu lục.Nhiều tổ chức nghề
nghiệp và bệnh nhân ở 36 nước đă tổ chức mạng lưới vận động chính phủ tham gia
và hoạch định chương tŕnh hành động cho thập niên tới.
BS Lê Anh Bá lược dịch theo The Journal of Bone and
Loint Surgery Vol 81No 7,July 1999.
Lây truyỀn HIV qua bú mẸ:
Nghiên cỨu tẠi Malawi
Bối cảnh: Hiểu được nguy cơ lây truyền HIV qua việc bú sữa mẹ
là cần thiết để tham vấn cho các bà mẹ bị nhiễm HIV và xây dựng các khuyến nghị
chính thức trong sách lược y tế cộng đồng.
Mục tiêu: Xác định tần suất, thời điểm và các yếu tố nguy cơ
lây nhiễm HIV qua sữa mẹ.
Đây là nghiên cứu thuần tập
tiền cứu được thực hiện từ năm 1994 đến 1997, theo dơi trẻ mới sinh cho đến lúc
được 24 tháng tuổi. Địa điểm thực hiện tại khoa sau sinh của bệnh viện tại
Biantyre, Malawi.
Đối tượng: Tổng cộng có 672 trẻ (HIV âm tính lúc sinh) con của
các bà mẹ bị nhiễm HIV chưa dùng thuốc kháng retrovirus trong hoặc và sau thai
kỳ.
Các chỉ số đánh giá chính:
Xuất độ nhiễm HIV theo tuổi ở trẻ bú mẹ và các yếu tố nguy cơ lây nhiễm của bà
mẹ và của trẻ, sử dụng các mô h́nh ngẫu nhiên tỉ lệ, theo phương pháp
Kaplan-Meier, để rút ra tỉ suất nguy cơ tương đối (RR) và khoảng tin cậy 95%.
Kết quả: Có 47 trẻ bị nhiễm HIV trong thời gian bú mẹ, nhưng
không có trẻ nào bị nhiễm sau khi cai bú. Tỉ lệ dồn nhiễm bệnh trong khi bú mẹ,
từ tháng đầu đến cuối tháng thứ 5, 11, 17 và 23 lần lượt là 3,5%, 7,0%, 8,9%, và
10,3%. Xuất độ hàng tháng là 0,7% từ lúc 1 đến 5 tháng tuổi, là 0,6% từ 6 đến 11
tháng tuổi, và là 0,3% từ 12 đến 17 tháng tuổi (P xu hướng = 0,01). Những yếu tố
kết hợp một cách có ư nghĩa với nguy cơ thấp bị lây nhiễm HIV sau sinh trong mô
h́nh đa biến là sinh nhiều lần (RR = 0,23, khoảng tin cậy 95% = 0,09-0,56) và mẹ
lớn tuổi (RR = 0,44, khoảng tin cậy 95%: 0,23-0,84).
Kết luận: Số liệu của nghiên cứu này gợi ư rằng nguy cơ nhiễm
HIV cao nhất trong những tháng đầu bú mẹ, do vậy khuyến nghị về việc nuôi con
bằng sữa mẹ cần được qui định chặt chẽ hơn đối với các bà mẹ bị nhiễm HIV.
Theo JAMA 1999; 282:744-749 (Paolo G.M)
HIV transmission through beastfeeding: a study in
Malawi.( NT)
MỐi tương quan giỮa nồng độ
CK-MB tăng nhẹ và tử suất ở bệnh nhân với hộiỒ chứng mạch vành cấp nhưng không
có đoạn ST chênh lên.
Bối cảnh: Hiện có nhiều ư kiến trái ngược xung quanh chẩn đoán
và tiên lượng ở bệnh nhân có hội chứng mạch vành cấp nhưng không có đoạn ST
chênh lên. Mục tiêu của nghiên cứu này nhằm khảo sát mối tương quan giữa nồng độ
đỉnh creatin kinase (CK)-MB và hệ quả, và nhằm xác định nồng độ ngưỡng nào mà
dưới mức đó th́ nguy cơ không tăng.
-Đây là phân tích hồi cứu dựa
vào những dữ liệu của thử nghiệm PURSUIT (Platelet Glyco-protein IIb/IIIa in
Unstable Angina: Receptor Suppression Using Integrilin Therapy) thực hiện từ
tháng 11/1995 đến 01/1997.
Tổng cộng có 8250 bệnh nhân
với hội chứng mạch vành cấp nhưng không có đoạn ST chênh lên, có ít nhất một mẫu
CK-MB trong thời gian nằm viện.
Chỉ số đánh giá chính là tử
suất vào thời điểm 30 ngày và 6 tháng theo phân độ về nồng độ đỉnh CK-MB (0-1,
>1-2, >2-3, >3-5, >5-10, hoặc >10 lần giới hạn trên của b́nh thường). Dùng hồi
quy đa biến để xác định ư nghĩa tiên lượng độc lập của nồng độ đỉnh CK-MB sau
khi điều chỉnh các yếu tố- tiên đoán ban đầu của tử suất vào lúc 30 ngày và 6
tháng.
Kết quả: Tử suất vào thời điểm 30 ngày và 6 tháng, theo thứ
tự, ở bệnh nhân có nồng độ đỉnh CK-MB b́nh thường là 1,8% và 4% đă tăng lên 3,3%
và 6,2% khi nồng độ đỉnh của CK-BM gấp 1-2 lần b́nh thường, tăng lên 5,1% và
7,5% khi nồng độ đỉnh CK-MB gấp 3-5 lần b́nh thường, và tử suất là 8,3% và 11,0%
khi nồng độ CK-MB gấp 10 lần b́nh thường. Nồng độ CK-MB là là yếu tố tiên đoán
cho tử suất vào lúc 30 ngày và 6 tháng.
Kết luận: Những dữ liệu này chứng tỏ gia tăng nồng độ CK-MB có
mối tương quan mạnh với tử suất của bệnh nhân với hội chứng mạch vành cấp nhưng
không có đoạn ST chênh lên và nguy cơ gia tăng khi nồng độ cao hơn b́nh thường.
Trong bối cảnh lâm sàng phù hợp, ngay cả đến sự tăng nhẹ nồng độ CK-MB có thể
xem như dấu hiệu của nhồi máu cơ tim.
Theo Am J Clin Nutr 2000 Jan;71(1 Suppl):208-12 (John
H. Alexander et al):
Association Between Minor Elevations of Creatine
Kinase-MB Level and Mortality in Patients With Acute Coronary Syndromes Without
ST-Segment Elevation. (LAB)
|