ĐẶT VẤN ĐỀ
Năm 1983, Marshall và Warren
phát hiện một loại vi khuẩn hiện diện ở niêm mạc dạ dày(1)
trước đặt tên là Campylobacter pylori sau đặt tên là Helicobacter
pylori. Người ta đă xác lập mối liên hệ giữa vi khuẩn này với bệnh viêm loét
dạ dày-tá tràng, và đặt vấn đề tiệt trừ H. pylori như liệu pháp quan
trọng trong điều trị viêm loét. Đă có một số phác đồ điều trị kết hợp thuốc
chống tiết acid hoặc thuốc bảo vệ tế bào với các kháng sinh như: amoxycillin,
tetracyclin, metronidazol, clarithromycin.(2,3)
Tuy số lượng thuốc dùng trong
điều trị viêm loét dạ dày-tá tràng có khá nhiều, đa dạng và có nhiều tiến bộ
trong điều trị nhưng việc nghiên cứu t́m ra thuốc mới, đặc biệt từ các hợp chất
thiên nhiên nhằm khắc phục các tác dụng phụ do thuốc là hóa chất tổng hợp vẫn
được đặt ra.
-Chitosan, hợp chất được điều
chế từ nguồn thiên nhiên là vỏ tôm cua, đă được nghiên cứu sử dụng trong lĩnh
vực y dược. Chitosan đă được ghi nhận có tính bảo vệ niêm mạc.(4) Đặc
biệt, ở nước ta chitosan đă được nghiên cứu về tác dụng kháng khuẩn.(5)
Trong công tŕnh nghiên cứu
trước đây, chúng tôi đă tiến hành nghiên cứu điều chế chitosan theo phương pháp
thủy nhiệt có sửa đổi và thử tác dụng ức chế pepsin (in vitro), tác dụng
bảo vệ tế bào (in vivo) của sản phẩm điều chế. Kết quả cho thấy, cùng sử
dụng lượng giống nhau (100mg), chitosan có tác dụng ức chế pepsin tốt hơn
sucralfate, trên mô h́nh ethanol chitosan dùng liều 500mg/kg có tác dụng chống
loét tương đương với sucralfate dùng liều 60mg/kg.(6)
Tiếp tục công tŕnh trên,
trong phạm vi đề tài này, chúng tôi thử tác dụng kháng khuẩn H. pylori
của chitosan.
vật liệu và phương pháp
1. Nguyên liệu
1.1. Chitosan: điều chế từ vỏ
tôm càng xanh (Macrobrachium rosenbergii) theo phương pháp thủy nhiệt có
sửa đổi và được kiểm nghiệm tính dược dụng.(6)
Chitosan được điều chế thành
2 dạng:
- Dạng hỗn dịch (chitosan HD
2%): ḥa tan bằng cách đun cách thủy chitosan trong dung dịch HCl 1%, sau đó
trung ḥa bằng dung dịch NaOH 1% để có pH 7-8, chitosan dạng kết tủa mịn được
tạo thành. Rửa kết tủa cho đến khi không c̣n ion clorid. Khuấy chitosan kết tủa
trong nước cất để tạo hỗn dịch 2%.
- Dạng dung dịch gel trong
(dung dịch chitosan gel 1,7% pH6): thêm HCl 3% vào chitosan dạng hỗn dịch đă
được pha ở nhiều nồng độ khác nhau để đạt pH6, đun cách thủy để ḥa tan. Đă chọn
được nồng độ 1,7% để có chitosan dạng dung dịch gel trong.
1.2. Vi khuẩn thử nghiệm:
- Escherichia coli
ATCC 25922.
- Pseudomonas aeruginosa
ATCC 27853.
Hai chủng vi khuẩn trên đạt
tiêu chuẩn quốc tế do Bộ môn Vi sinh, Khoa Dược, Trường ĐH Y Dược TP.HCM cung
cấp.
- Helicobacter pylori:
20 chủng H. pylori được phân lập và nuôi cấy từ mẫu mô sinh thiết niêm
mạc hang vị dạ dày của các bệnh nhân nội soi tại pḥng khám Đa khoa, ĐHYDTP.HCM.
Mẫu mô được lấy theo đúng
tiêu chuẩn chọn mẫu, được bảo quản trong dd NaCl 0,9% ở 4oC và cấy trước 4 giờ
kể từ khi lấy.
2. Phương pháp
2.1. Phương pháp nuôi cấy
H. pylori:
Mẫu mô sinh thiết được nghiền
nát giữa 2 tấm lam vô trùng và được cấy vào các hộp thạch chứa môi trường thạch
máu gồm các thành phần:(7)
Columbia agar, 7% máu cừu, 4% huyết thanh bào thai bê, amphotericin B (20 mg/ml), acid
nalidixic (10 mg/ml) , vancomycin (3mg/ml). Các
hộp thạch được đem ủ ở nhiệt độ 37oC trong điều kiện vi hiếu khí được
tạo bởi bao tạo khí Campy-Pak. Đọc kết quả sau 5-7 ngày, khuẩn lạc là những khúm
nhỏ, đường kính 1-2 mm, màu xám trong suốt. Thử các phản ứng để định danh vi
khuẩn: urease, catalase, oxidase. Chọn khuẩn lạc mọc tốt, nhiều, đem hoạt hóa
trong môi trường lỏng để làm thử nghiệm.
2.2. Thử nghiệm tác dụng
kháng khuẩn:
- Thử trên E. coli và
P. aeruginosa:
Chitosan HD 2% và dd chitosan gel 1,7% pH6 được
pha trong môi trường thạch dinh dưỡng (2ml dd chitosan pha trong 8ml thạch dinh
dưỡng). Vi khuẩn được pha thành huyền dịch trong canh cấy lỏng dinh dưỡng với
đậm độ 106 vi khuẩn/ml, được cấy trên dĩa thạch, đem ủ 37oC/24giờ.
Xác định vi khuẩn mọc nhiều, ít hay không mọc để kết luận vi khuẩn có nhạy cảm
với chế phẩm.
- Thử trên H. pylori:
Chế phẩm chitosan được pha
loăng trong môi trường thạch máu với các nồng độ như sau (Bảng 1):
H. pylori -được pha thành huyền dịch trong canh cấy lỏng dinh
dưỡng với đậm độ 106 vi khuẩn/ml và được cấy trên dĩa thạch có chứa
chitosan. Các hộp thạch được ủ ở môi trường vi hiếu khí tạo bởi Campy-Pak ở 37oC
trong 3 ngày. Đọc kết quả để xác định vi khuẩn nhạy cảm hay không nhạy cảm với
chế phẩm.
-Bảng 1. Nồng độ chitosan trong môi trường thạch máu
|
Môi trường thạch máu
(ml)
|
Dd chitosan gel 1,7%
(ml)
|
Nồng độ chitosan
(mg/ml)
|
|
9,5
|
0,5
|
0,85
|
|
9,0
|
1,0
|
1,7
|
|
8,0
|
2,0
|
3,4
|
|
6,0
|
4,0
|
6,8
|
Kết quả
1. Thử trên E. coli và P. aeruginosa: (Bảng 2)
Bảng 2. Sự nhạy cảm của E. coli và P. aeruginosa
đối với chế phẩm chitosan
|
STT
|
Chất thử nghiệm
|
Nồng độ chitosan
trong thạch dinh dưỡng
|
E. coli
|
P. aeruginosa
|
|
1
|
Chitosan HD 2%
|
4mg/ml
|
+++
|
+++
|
|
2
|
Dd chitosan gel 1,7%
pH6
|
3,4mg/ml
|
-
|
-
|
|
3
|
Nước acid HCl pH6
|
|
+++
|
+++
|
Ghi chú: +++: vi khuẩn mọc
mạnh
--------- --- : vi khuẩn
bị ức chế hoàn toàn
2. Thử trên H. pylori: (Bảng 3)
Bảng 3. Phân bố độ nhạy cảm của 20 chủng H. pylori
-đối với chế phẩm chitosan ở các nồng độ khác nhau
|
MIC của chitosan (mg/ml)
|
0,85
|
1,7
|
3,4
|
6,8
|
>6,8
|
|
Số chủng H. pylori
thử nghiệm (n=20)
|
1
|
3
|
2
|
5
|
9
|
Bàn luận
1. Trước khi xác định sự nhạy
cảm của H. pylori đối với chitosan, tiến hành thử nghiệm trên E. coli
và P. aeruginosa là 2 loại vi khuẩn Gram (-) điển h́nh. Do chitosan là một
polymer không tan trong nước nên được điều chế thành 2 dạng: dạng hỗn dịch trong
nước 2% và dạng dung dịch gel 1,7% pH6. Kết quả của Bảng 2 cho thấy chitosan ở
dạng dd gel 1,7% pH6 được pha loăng nồng độ 3,4 mg/ml ức chế E. coli và
P. aeruginosa trong khi chitosan dạng hỗn dịch không cho tác dụng này.
Trong một công tŕnh khảo sát
tác dụng kháng khuẩn của chitosan thực hiện trong nước trước đây, các tác giả
cho biết đă dùng dung dịch chitosan 4% và xác định nồng độ ức chế tối thiểu đối
với E. coli và P. aeruginosa là 2/1000.(5) Như vậy, để
có tác dụng kháng khuẩn, chitosan cần ở trạng thái phân tán tốt trong môi trường
và theo thử nghiệm này, chitosan được điều chế ở dạng dd gel pH6. Chúng tôi đă
chọn pH6 v́ theo một số tác giả nước ngoài, niêm mạc dạ dày là nơi ẩn trú của
H. pylori có pH từ 5 đến 6, một chất kháng H. pylori tốt khi hoạt
tính kháng khuẩn của nó thể hiện tốt ở pH acid của niêm mạc.(8)
Từ kết quả thử trên, E.
coli và P. aeruginosa, chitosan ở dạng dd gel 1,7% pH6 được chọn để
thử trên H. pylori.
2. Dựa vào phương pháp pha
loăng trong thạch để thử trên H. pylori, pha loăng dd chitosan dạng gel
và khảo sát 4 nồng độ nằm trong khoảng gần với nồng độ đă thử với E. coli
và P. aeruginosa (3,4 mg/ml).
Khảo sát- trên 20 chủng H.
pylori đă được phân lập và nuôi cấy, bảng 3 cho thấy chitosan với khoảng
nồng độ ức chế tối thiểu (MIC: Minimum Inhibitory Concentration) từ 0,85 đến 6,8
mg/ml có thể ức chế một số chủng H. pylori.
Tiệt trừ H. pylori
trong viêm loét dạ dày-tá tràng hiện nay đă được thế giới công nhận. V́ vậy, một
thuốc được nghiên cứu trong điều trị bệnh lư này thường được khảo sát xem có tác
dụng kháng H. pylori hay không- Ngay như các thuốc trị viêm loét chống
tiết acid đă được sử dụng trong lâm sàng lâu nay cũng được nghiên cứu thêm về
hoạt tính kháng H. pylori .(9) Theo McNulty, một thuốc kháng
H. pylori lư tưởng là thuốc có tác dụng kháng khuẩn vừa tại chỗ vừa toàn
thân, bền vững với môi trường acid của niêm mạc và thấm được vào niêm mạc dễ
dàng, đồng thời ít gây độc tính và tác dụng phụ. Bismuth subcitrate dạng keo mặc
dù có tính kháng H. pylori khá tốt (MIC: 4-50
mg/ml),(10) nhưng do chỉ cho tác dụng tại chỗ nên trong điều
trị tiệt trừ H. pylori phải kết hợp 2 kháng sinh khác.
Trong nghiên cứu trước đây,
chúng tôi ghi nhận chitosan có tác dụng bảo vệ tế bào đối với niêm mạc và trong
thử nghiệm này, chitosan chứng tỏ phần nào có tác dụng ức chế H. pylori.
Đây chỉ là khảo sát sơ bộ in vitro nhưng kết quả thu được cho phép tiếp
tục nghiên cứu kỹ hơn trong tương lai về tác dụng trị viêm loét dạ dà-tá tràng
theo quan điểm hiện nay, đặc biệt tác dụng kháng H. pylori. Với ưu điểm
là hợp chất được điều chế từ nguồn thiên nhiên là vỏ tôm phế thải có sẵn ở nước
ta, hy vọng chitosan sẽ ít gây các tác dụng phụ bất lợi như các hóa chất tổng
hợp. Chitosan rất có triển vọng trở thành tác nhân có tác dụng tại chỗ phối hợp
với các thuốc khác để điều trị viêm loét dạ dày-tá tràng.
KẾT LUẬN
Từ kết quả thử có tác dụng ức
chế trên E. coli và P. aeruginosa, chitosan ở dạng dd gel 1,7% pH6 được
chọn để thử tính kháng khuẩn H. pylori.
Khảo sát 20 chủng H.
pylori được phân lập và nuôi cấy, chitosan dùng ở dạng dd gel 1,7% pH6 có
tác dụng ức chế một số chủng H. pylori với khoảng MIC từ 0,85 đến
6,8mg/ml.
Đây chỉ là các kết quả bước
đầu, chúng tôi c̣n tiếp tục nghiên cứu kỹ hơn vấn đề này.
Tóm tắt
Bước đầu thử nghiệm in vitro
xác định tính nhạy cảm của các chủng H. pylori phân lập được tại TP. Hồ Chí Minh
đối với chitosan qua 2 giai đoạn:
1. Thử trên E. coli và P.
aeruginosa để xác định dạng bào chế thích hợp của chitosan dùng khảo sát tính
kháng khuẩn là dung dịch gel 1,7% pH6.
2. Thử trên 20 chủng H.
pylori phân lập được tại TP. Hồ Chí Minh theo phương pháp pha loăng trong thạch
(5) cho thấy chitosan ở dạng dung dịch gel 1,7% pH6 có tác dụng ức chế một số
chủng H. pylori với khoảng nồng độ ức chế tối thiểu từ 0,85 đến 6,8mg/ml.
Summary
PRELIMINARY STUDY ON EFFECT AGAINST HELICOBACTER PYLORI OF
CHITOSAN
The preliminary in vitro susceptibilities of clinical
isolates of Helicobacter pylori to chitosan were determined in 2 stages:
1. By testing for inhibitory activity against E. coli
and
P. aeruginosa, we have determined the suitable form of chitosan producing
antibacterial activity was 1.7% transparent chitosan gel solution pH6.
3. The in vitro susceptibilities of 20 clinical H.
pylori isolates to 1.7% transparent chitosan gel solution pH6 were
determined by an agar dilution technique. The MIC values of chitosan against
some
H. pylori isolates ranged from 0.85 to 6.8mg/ml.
CẢM ƠN
Chúng tôi chân thành cảm ơn
PTS. Nguyễn Văn Thanh (BM Vi sinh, Khoa Dược, ĐHYD TP.HCM), PGS.PTS. Nguyễn
Thanh Bảo (BM Vi sinh, Khoa Y, ĐHYD TP.HCM), BS. Lục Thị Vân Bích (TT Đào Tạo và
Bồi dưỡng CBYT TP.HCM) đă tận t́nh giúp đỡ thực hiện đề tài này.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Marshall B. J., Warren J. R., Lancet i ,1273-1275,
(1983).
2. Lam S. K., Talley N. J., Journal of GE and Hepatology
13, 1-12, (1998).
3. Malfertheiner P., Journal of GE and Hepatology 9, 1-2,
(1997).
4. Knapczyk J., "Chitin and Chitosan Sources, Chemistry,
Biochemistry, Physical Properties and Applications", Elsevier Applied Science,
New York, 657-663, (1989).
5. Nguyễn thị Ngọc Tú và cs, Tạp chí Dược học 7, 19-21,
(1998).
6. Nguyễn Hữu Đức và cs, Kỷ yếu công tŕnh nghiên cứu khoa
học kỹ thuật Y Dược chào mừng 300 năm Sàig̣n-TP. HỒ CHÍ MINH 11-1998, 451-454,
(1998)
7. Lục Thị Vân Bích và cs, Y học TP.HCM, Số đặc biệt Hội
nghị KH Trường ĐHYD TP.HCM., (1997).
8. McNulty C. A. M., Dent J. C., Ford G. A., Wilkinson S.
P., Journal of Antimicrobial Chemotherapy 22, 729-738, (1988).
9. Tomoyoki Iwahi et al., Antimicrobial Agents and
Chemotherapy , 35(3), 490-496, (1991).
10. De Cesare Cavlli S., Basso O., "Drugs in
Gastroenterology", Raven Press, New york, 217-231,- (1991).